Nhãn

Thứ Hai, 19 tháng 4, 2010

Chuyên đề: Hoa loa kèn

Hoa loa kèn là một loài thực vật có hoa với tên khoa học Lilium longiflorum Thunb. (họ Liliaceae). Loài cây này xuất xứ từ Nhật Bản và đảo Ryukyu nhưng được du nhập vào Việt Nam từ Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước Châu Âu từ thế kỷ 20 với nhiều màu sắc khác nhau. Tuy nhiên đến nay thì loa kèn màu trắng là còn tồn tại và được ưa chuộng nhất.

Hoa loa kèn du nhập vào nước ta cùng với hoa phăng (hoa cẩm chướng)... Huệ tây được trồng đầu tiên tại Ðà Lạt, vì nơi đây có khí hậu ôn đới rất phù hợp với đặc tính của loa kèn, sau đó phát triển dần sang các tỉnh khác. Trong các loài hoa du nhập vào nước ta như các loài hồng, cẩm chướng, violet... thì hoa loa kèn được người tiêu dùng ưa chuộng hơn cả. Nhất là với Hà Nội, hoa loa kèn được coi là một thứ hoa sang trọng, quyền quý... một thứ gì đó trong sáng, nhẹ nhàng đặc trưng của Hà Nội mỗi khi tháng tư về ... Trước Cách mạng Tháng Tám, hầu như loa kèn là một thú chơi của dân nhà giàu, có một chút gì hướng ngoại, hướng về phương Tây. Bởi vì, nước Pháp khi xưa được gọi là vương quốc của loa kèn hay huệ tây. Với người Pháp, huệ tây là biểu thị của lòng trong trắng, trinh tiết.

Hoa loa kèn có màu trắng pha thêm chút xanh và mùi hương thơm dịu. Một cành hoa thường có từ 1 đến 3 hoa. Lá hoa dày màu xanh hơi vàng, thân hoa là củ nằm dưới đất cành lá ở phần trên mặt đất. Cành hoa tương đối cứng nên ít bị đổ gãy. Hoa loa kèn nở vào dịp cuối xuân đầu hạ tức là vào khoảng tháng tư và chỉ nở rộ trong nửa tháng. Vì vậy, vào giữa tháng tư, ở đâu ta cũng gặp hoa loa kèn tràn ngập khắp phố phường, sau đó thì lại trở lên quý hiếm.

Hoa loa kèn được trồng chủ yếu vào tháng 9, 10 và đến tận tháng 4 năm sau mới cho thu hoạch. Nếu được chăm sóc tốt, đủ chất dinh dưỡng thì một củ giống cho tới 15-17 hoa nếu không nó chỉ cho từ 1-2 hoa. Để trồng cây hoa loa kèn đúng kỹ thuật phải cẩn thận từ khâu chọn và làm đất.

Đất phải có thành phần cơ giới nhẹ. Đất thích hợp là đất xốp, nhiều mùn, độ ẩm vừa phải, thoát nước nhanh nhưng phải giữ ẩm tốt. Đất thịt, đất nghèo dinh dưỡng pha sét hay cát pha nhiều không thích hợp cho sinh trưởng phát triển. Đất trồng hoa phải tránh nắng, tránh xa nơi có lò gạch, gần nhà máy có khói than.

Đất trồng hoa phải được cày bừa, đập vỡ khoảng 3 lần, mỗi lần cách nhau từ 5-7 ngày. Sau khi làm xong, đất phải nắm đựợc thành cục bỏ trong tay không bị vỡ ngay là được. Làm luống cao, mặt luống phải thật phẳng, sẻ rãnh rồi bón phân thật hoại hay bón trước mùa đông rồi mới trồng. Lượng phân bón phải đạt yêu cầu như sau:

Phân ủ mục: 2m3/sào

Lân: 5kg/sào

Kali 5kg/sào

Khi trồng, đặt củ giống vào rãnh, các hàng cách nhau khoảng 45cm, các củ cách nhau 30cm, lấp đất sâu vừa phải từ 4-5cm, nếu lấp sâu thì cây sẽ khó mọc. Khi hoa vươn cao cần tưới nước phân pha loãng ½-1/5 lần, rồi xới xáo vun cao cho cây khỏi đổ. Cây loa kèn cứng nên không phải cắm cọc. Khi cây bắt đầu nhú hoa thì ngừng vun và xới xáo. Khi đến thời điểm thu hoạch nên cắt hoa vào lúc bông hé nứt đầu cánh, chừa lại phần gốc 20-15cm có cả lá để cây nuôi củ. Hoa cắt xong có thể cắm ngay vào nước hoặc có thể để trong tủ lạnh 10-18 độC trong vòng 15-18 giờ đồng hồ, để hạn chế hoa héo và nở sớm.

Phần củ thân còn lại tiếp tục chăm sóc, xới xáo cho đến tháng 4 rồi mới đào củ. Củ đào lên đem rũ đất rồi cho vào cát. Khi bảo quản củ, cần giữ nguyên cả thân tới vụ trồng sau. Khi đem củ đi trồng cần cắt bỏ phần thân củ, phân loại củ to, củ nhỏ, củ nhỡ để trồng theo từng lô riêng, để việc chăm sóc được đồng đều. Tuy nhiên, củ loa kèn trắng nhiều nước, rất dễ bị thối, không nên để quá lâu trong đất. Khi bảo quản củ giống trong cát, cứ 15-20 ngày nên đảo lại một lần, loại bỏ củ nhỏ, củ thối dịch bệnh. Những củ thối cần vứt bỏ cả phần cát nơi bảo quản.

Một điều cần chú ý khi trồng cây hoa loa kèn là lá thường bị khô đầu lá do thiếu dinh dưỡng. Vì vậy, cần bổ sung dinh dưỡng qua lá hay rễ bằng cách phun lên lá một lượng lân và 1% ure. Trường hợp lá bị sọc vàng gân lá, ta xới thoáng gốc và phun Zinép-Basudin. Khi đến thời điểm thu hoạch mà gặp thời tiết nóng ẩm cũng hay có hiện tượng bị rỉ sắt lá, nên phòng chống bằng Shimel 1%.

Những năm gần đây, hoa loa kèn đã được một số nơi trồng trái vụ để có hoa để cung cấp cho nhu cầu chơi hoa quanh năm nhất là vào Tết nguyên đán và ngày quốc tế phụ nữ 8-3. Tuy nhiên, hoa loa kèn không thích hợp với thời tiết nắng nóng, nếu trồng trước thời điểm tháng 9 và tháng 10, cây con bị nắng tỷ lệ chết cao. Vì vậy, để có hoa loa kèn trái vụ như mong muốn thì khi trồng cần tuân thủ các quy trình sau:

Nên rút ngắn thời gian củ hoa kèn nằm trong đất và dùng dung dịch gibberellin từ 10 đến 15mg/l phun ướt đẫm hoặc ngâm củ hoa. Sau đó cho vào sọt và đem đi xử lý lạnh trong một thời gian nhất định.

Khi cây hoa phát triển cao 10cm trở lên thì phun chế phẩm ra lá phát chồi, cứ 15 ngày phun l lần. Chế phẩm này giúp cho cây phát triển nhanh trong điều kiện không thuận lợi, chóng đạt độ cao cho phép hình thành. Tránh được hiện tượng ra hoa mà cây quá thấp, giá trị cành hoa sẽ không cao.

Khi cây chuẩn bị ra hoa, có thể phun chế phẩm kích thích ra hoa để cây ra hoa nhiều và to.Từ đó, giá trị hoa thương phẩm sẽ được nâng cao hơn nữa.

Chuyên đề: Hoa Quỳnh


I/ Giới thiệu về cây Hoa Quỳnh

Hoa Quỳnh là một trong những loài cây cảnh quý phái và được mệnh danh là “Nữ Hoàng của Bóng Đêm” – thuộc họ xương rồng. Xương rồng (Cactaceae) có tên khoa học là Epiphyllum grandilobum, Epiphyllum oxypetallum, Phyllocactus grandis , Selenicereus grandiflorus …

Theo quyển "Epiphyllum" của tác giả người Đức Marga Leue thì hoa Quỳnh được các thủy thủ người châu Âu khám phá lần đầu tiên tại nam Mỹ cách nay 250 năm. Thế nhưng mãi đến một thế kỷ sau đó, hoa Quỳnh mới được biết nhiều tại Anh rồi sau đó lan tràn sang Pháp, Đức và toàn Châu Âu. Đến thập niên 1920 hoa Quỳnh mới sang tới Mỹ và nơi đây trở thành lò sản xuất hoa quỳnh lai giống (hybrid) hàng đầu thế giới.

1. Đặc điểm sinh trưởng:

Hoa Quỳnh xuất hiện vô cùng kín đáo và tuổi thọ ngắn ngủi. Cây quỳnh (Epiphyllum) nguyên gốc từ tiếng Hy Lạp, gồm chữ Epi là "trên" và phyllum là "lá" nghĩa là epiphyllum là "trên lá"; hoa, trái và hạt, cành của cây quỳnh đều bắt đầu ngay ở lá. Tuy nhiên, gọi là lá cũng không đúng vì quỳnh chỉ có cành, và cành biến thể trông rất giống lá. Cây quỳnh nguyên thuỷ chính là cây dại mọc bám vào các thân cây ở các khu rừng nhiệt đới tại vùng Trung và Nam Mỹ. Quỳnh là một loại cây sống cộng sinh chứ không phải sống ký sinh trên những cây khác.

Quỳnh thường sống ở vùng Sonoran, sa mạc Chihuahuan, miền Nam sông Arizona, bang Texas và Mexico. Hoa quỳnh mọc hoang dã trên sa mạc và ở những lớp đất bồi giữa độ cao 600 và 1150 m, ưa bóng râm cuả sa mạc.

Hoa Quỳnh thuộc họ Xương Rồng Cactaceae , nhóm Epiphyllum và có tên tiếng Anh là Night Blooming Cactus.

Nhìn cây hoa quỳnh người ta khó phân biệt đâu là lá, đâu là thân bởi cây có bộ phận thân giống như phiến lá, bản rộng, dẹp, màu xanh và có gân ở giữạ. Hoa mọc ở kẽ những vết khía của thân (phần dẹp và rộng bản).

Cây quỳnh trong tự nhiên mọc trên thân cây khác, sống nhờ chất đất mùn ở vỏ cây, chứ không hút nhựa của các loại cây này. Tuy sống tự nhiên trong các vùng khí hậu nóng và độ ẩm rất cao, rễ cây không hề bị thối rửa do cấu trúc rễ không bị ứ đọng nước và thân cây thường được các tàn lá cây chủ cản bớt sức nóng trực tiếp từ ánh nắng mặt trời. Vì vậy, khi trồng quỳnh, người ta phải đưa vào chỗ mát với ánh sáng gián tiếp cho cây có điều kiện sống như trong thiên nhiên.

Hoa Quỳnh rất dễ trồng, chỉ cần mái che mưa nắng, sương gió và khí lạnh với đất trong chậu phải xốp và thoát nước là đủ để cây phát triển được. Ngày nay, quỳnh thường được trồng trong chậu để dễ di chuyển khi xem hoa nở và có thể trồng bằng cách cắm cành. Quỳnh sống được rất lâu trong môi trường tự nhiên và chịu khô hạn rất tốt, ngay cả khi không được chăm sóc, quỳnh vẫn sống nhưng không ra hoa. Do đó, Quỳnh cần được chăm bón thường xuyên để cho hoa và mang lại tuổi thọ lâu dài cho cây. Có thể để quỳnh trong nhà nhưng phải đặt ở chỗ có nhiều nắng chiếu vào. Cây quỳnh không cần phân bón, nhưng cũng có thể tưới loại phân bón " Peters 20-20-20, Miracle Gro, hoặc Super Bloom" mỗi tháng một cốc nhỏ từ tháng tư đến tháng chín. Không nên dùng những loại phân bón có nồng độ cao Nitrogen. Lý do mà hoa quỳnh không nở là chủ yếu vì quỳnh thiếu ánh nắng hoặc chưa đủ tuổi (thường hoa quỳnh nở tươi tốt , nở nhiều hoa phải sau 5 năm trở lên). Đặc biêt, Quỳnh không sống được trong môi trường quá nhiều nước.

2. Các giống cây hoa quỳnh phổ biến:

Phần lớn cây quỳnh thường thấy ngày nay là quỳnh hybrid, tiến triển qua nhiều năm ghép phấn của các loại hoa quỳnh.

Quỳnh hybrid có tất cả 9 loại khác nhau :

2 loại cỡ nhỏ- đường kính của hoa từ 3 - 5 inches

- E.caudatum hương nhẹ ngọt màu trắng bên ngoài có màu xanh ngọc .

- E.pumilum không hương nhưng cánh hoa rất dễ thương (hình minh hoạ)

3 loại cho hoa cỡ trung bình - từ 5-7 inches

- Epiphyllums aguliger có hương nhẹ

- E.aguliger nở hoa trắng nhưng bên ngoài có màu vàng tên riêng là Darahii

- E.cartagense nở hoa trắng nhưng bên ngoài có màu hồng pha vàng (hình minh họa 2 hoa E. cartagense):

3 loại cỡ lớn -đường kính 7-9 inches

- E. guatemalese hoa trắng rất đẹp, nhuỵ như màng nhện vàng, hương nhẹ

- E . oxypetalum thơm ngào ngạt ,ngọt ngào, rất đẹp, mọc có cành dài

- E . strictum đẹp nhưng hương nồng, không ngọt

1 loại đặc biệt lớn - hơn 9 inches tên là Epiphyllums thomasianum hình dạng như cái chuông hoa trắng ánh đỏ thơm nhẹ. Hiện nay, người ta ưa chuộng loại quỳnh hybrid vì màu sắc rất phong phú (ngoại trừ màu xanh dương) và hoa có thể nở được trong vòng vài ba ngày thay vì chỉ vài tiếng đồng hồ như quỳnh Việt Nam.

Theo hội "Hoa Quỳnh Hoa Kỳ", hội Quỳnh hương lớn nhất của Mỹ có trụ sở tại Monrovia gần Los Angeles, thì hiện nay có khoảng hơn 10.000 loại hybrid có đăng ký bản quyền và có tên gọi riêng. Quỳnh lai giống (Quỳnh hybrids) thường có tên gọi là Epiphyllum ghép với một từ khác không có gốc La tinh như epiphyllum Saigon, epiphyllum Madonna...

Ở Việt Nam, ngòai loài quỳnh có sắc trắng với tên khoa học Epiphyllum oxypetallum, còn có:

- Quỳnh đỏ Epiphyllum Ackermannii

- Quỳnh Epiphyllum Hybrids là kết quả của quá trình lai tạo, cấy ghép từ Quỳnh nguyên thuỷ với các loài Xương Rồng khác như Selenecereus , Hylocereus , Heliocereus , Nopalxochia ... tạo ra những loại hoa Quỳnh có rất nhiều màu : hồng , da cam , tím , vàng ...với kích thước hoa rất thay đổi.

2. Chi tiết về Hoa Quỳnh

Hoa có dạng hình giống kèn Trumpet. Hoa chỉ nở duy nhất một đêm vào khoảng tháng 6 hoặc tháng 7. Cánh hoa mỏng như lụa, bề mặt như phủ sáp nhưng lại rất mềm mại trong sắc trắng với nhị vàng đẹp lộng lẫy, cuống hoa được phủ lên một màu đỏ cam, với những chiếc gai nhỏ, ngắn. Đường kính hoa khoảng 10 cm và có thể đạt tối đa là 20 cm. Hoa có mùi hương thơm nhẹ nhàng thanh tao, nhưng lại không kém phần nồng nàn, quyến rũ làm thơm ngát cả một vùng không gian xung quanh. Trái hình bầu dục độ dài khoảng 8 cm . Khi hoa quỳnh nở, hoa không nở hết ngay mà từ từ hé nở để dần đạt đến kích thước tối đa, rồi sau đó các cánh hoa cụp dần và tàn lụi. Hoa nở vào khoảng 9 đến 10 giờ tối, và lại tàn rất nhanh vì thế hoa quỳnh càng trở nên hiếm.

Có một số người cho rằng hoa quỳnh phơi khô còn là một vị thuốc chữa bệnh đái đường rất công hiệu .

Hiện nay, ở Đà Lạt còn có loại hoa quỳnh màu vàng, đỏ (Quỳnh Nhật) nở ban ngày rất đẹp. Bên cạnh cây hoa quỳnh, người ta thường trồng cây daọ (hay giao) nên mọi người hay gọi chung là cây Quỳnh Dao. Sở dĩ quỳnh và dao trồng cùng với nhau vì cây quỳnh luôn có gốc rễ mọc từ dưới đất, riêng biệt, để nuôi sống cây. Vả lại, thân cây quỳnh mềm mại, nên cần có cây khác hoặc cột nào cứng để nâng đỡ cho cây đứng lên và giao là cây rất thích hợp vì nó sẽ càng làm tăng vẻ đẹp của quỳnh, hơn là cây quỳnh phải dựa trên một cây hay sào nhọn hoặc lưới mắt cáo để leo lên.

Chuyên đề: Hoa sỏi

Hoa sỏi là một loại cây đặc biệt thuộc họ Mensembryanthemaceae (Aizoaceae), tên khoa học là Lithopturbuniformis (listhos nghĩa là đá và opsis hình dạng). Nhìn từ trên xuống cây có hình trứng, nhìn từ dưới lên lại có hình nón. Mỗi cây đều mọc sát đất, thậm chí dấm dúi trong đất, chỉ một số nhô cao chừng 1-2 cm.

Nhiều cây trong suốt, nhìn thấy nội quan, nhiều cây lại đục ngầu mầu nâu, lam hoặc hòa với sỏi đá để dễ dàng lẩn trốn những con vật ăn cỏ và khát nước. Hoa sỏi chỉ mọc ở sa mạc và nơi khô hạn, cây nở hoa vào lúc trời mưa, rồi nhanh chóng kết hạt, phát tán. Mỗi khi hoa nở, cả một vùng vắng lặng bỗng nhiên biến thành một rừng hoa thơm ngát, vì thế hoa sỏi đã được xem là một kỳ quan của tự nhiên.

Năm 1810, nhà thực vật Wiliam John Burchell đến chơi ở một vùng của tỉnh Cape- Nam Phi , tình cờ nhìn thấy dưới chân một viên sỏi nâu, trên mặt có kẽ nứt, khi dẫm chân vào chảy nước, ông liền bứt lên xem và phát hiện nó là một loài cây lạ, sau đó nhà sinh vật Harworth cũng tìm thấy và đặt tên cây là Mensembryanthemunturbuniformis. Qua nhiều lần khảo sát, người ta đã kết luận Mensembryanthemun không chỉ là 1 loài cây mà là một họ các cây trên đá. Hoa sỏi thuộc họ này và được đổi tên thành Lithopturbuniformis. Đến nay ước tính có hơn 200 loại hoa sỏi, nhiều nhất là 4 loại cây: hình chén( chữ 0), hình chữ v, hình chữ v dài và hình gạc hươu (chữ x). Hoa đẹp nhất là L.optica hoa hồng, L.vallismariae hoa da cam hoặc trắng, L.verruculosa hoa nhiều mầu.

Như vậy, quê hương của hoa sỏi là Nam Phi và Namibia, trong đó nổi bật là khu vườn thực vật quốc gia Kirstenbosch, Cape Town Nam Phi. Ở đây, hoa sỏi rất được ưa thích nên đã có hàng trăm nghìn người thường đổ về đây tìm hiểu đời sống của cây. Nhiều loài hoa sỏi đã được trồng làm cảnh nhờ kích thước nhỏ bé, mọc chậm và hấp dẫn. Các vườn cảnh cũng đã lai tạo được nhiều giống hoa đẹp rực rỡ.

Mỗi cây hoa sỏi cấu tạo rất độc đáo, thường chỉ có hai chiếc lá cứng như hai nửa của một viên sỏi và được phân chia bởi một kẽ nứt ( một rãnh dài cắt ngang mặt), khi nắng xuyên qua mặt lá , sẽ giúp cây quang hợp tạo dưỡng chất… Cây cao từ 1-2cm, to khoảng 2-6cm. Mặt lá thường có nhiều chấm mầu, vân và hố lõm, nhiều khi kẽ lá mở rất rộng chiếm gần như toàn bộ cây. Sau khi hoa nở, cây ngủ, hai lá sẽ dồn dưỡng chất để nẩy sinh mầm mới nhú ra khỏi rãnh, cây cũ sẽ chết đi chỉ còn một lớp vỏ bao bên ngoài cây mới, nhưng cũng có khi cây cũ không chết ở nơi đó mà sẽ thành hai cây mới. Ở những điều kiện khác nhau, hoa sỏi sẽ biến đổi, như có một đôi lá, ít chấm mầu hay nhiều chấm mầu, nhiều cánh hoặc ít cánh. Cây mọc tốt trên đất khô, tiếp xúc trực tiếp với nắng và chịu được nhiệt độ sa mạc ban ngày tới 40 độ c, ban đêm 5 độ c. Trong thời kỳ không có mưa, hoa sỏi nằm bẹp duới cát sỏi và phát triển bộ rễ quặp kéo cây lún xuống dưới mặt đất. Đa số hoa sỏi nở hoa vào Thu Đông, sắc vàng rực, trắng, hồng, đỏ hay tím y hệt một bông cúc.

Khi trồng hoa sỏi, người trồng phải rất khéo léo. Mỗi ngày, cần cho cây tiếp xúc với nắng 4-5 giờ. Nếu cây ít nắng, nó sẽ mọc cao, to không đúng với tên gọi. Tuy nhiên, cần đưa ra nắng từ từ vì ở điều kiện trồng chậu lá dễ bị hỏng. Khi đã quen với khí hậu mới, có thể để cây dưới ánh nắng thoải mái.

Hoa sỏi có bộ rễ khá lớn, thích hợp với những chậu to và thoáng. Nên tưới nước ở một giai đoạn nhất định. Vào mùa nóng, có thể 3 ngày tưới một lần, và nếu gặp mưa thì không thể để cây sũng nước quá 5 ngày, nếu không lá sẽ héo và tàn. Trong mùa đông, có thể để cây khô, bởi lúc này cây đang chuẩn bị nẩy mầm, dùng chính độ ẩm và chất dinh duỡng từ cây mẹ.

Cây mọc đẹp nhất ở hai năm tuổi, quá tuổi này cây sẽ to và xấu, nhiều khi phát triển thành 12 cặp lá sù sì rất giống với hoa đá. Nhiều trường hợp, một cây không chỉ có một bộ hai lá mà có tới một bộ ba lá. Có cây vừa nở hoa trắng vừa nở hoa vàng, hoa hồng. Có thể khắc phục điều này bằng cách trả nó về với điều kiện khô hạn để cây sẫm lại, cằn và nhỏ bé đi.

Chuyên đề: Đào thất thốn Đà Lạt

Đào thất thốn Đà Lạt đầu tiên được một nghệ nhân ở Ấp Đa Thiện ( Đà Lạt ) - cụ Vũ Hữu Sửu, gây giống và phát triển vào năm 1968. Sau đó được một nghệ nhân ở ấp Hà Đông ( Đà Lạt) – cụ Ngô Nhật Tiên, đưa cây vào trồng chậu tạo thế phát triển thêm về mặt nghệ thuật. Hiện nay, đào Thất thốn Đà lạt có mặt ở hầu hết vườn cảnh của những nghệ nhân tại Đà Lạt.

Đào Thất thốn Đà Lạt là một loại cây có giá trị nghệ thuật rất cao trong bonsai- cây cảnh, có cây lên đến hàng chục triệu đồng. Ngoài các đặc điểm giống như đào thường như lá đơn, hình mác, mọc so le, có mép răng cưa; vỏ thân già màu xám; trái hình cầu có đầu nhọn; hạt hình bầu dục có một đầu nhọn và có vân lồi lõm, còn có một số đặc điểm sau:

1. Tán cây thường rất rậm vì lá chen nhau, và vì lá đào Thất thốn Đà Lạt lớn và dài hơn lá đào thường; dài 10-20 cm, rộng 1,5-2 cm. Đào Thất Thốn Đà Lạt có nõn lá non màu xanh trong khi nõn lá đào thất thốn Hà Nội màu xanh phớt đỏ sậm. Đào thất thốn Hà Nội có lá ngắn và nhỏ hơn đào Thất thốn Đà Lạt.

2. Tại đốt cây, khoảng cách giữa 2 lá của đào thất thốn Đà Lạt rất ngắn, cứ 1cm có 5-7 lá trong điều kiện ánh sáng thường. Đó chính là lý do khiến chiều cao của cây phát triển chậm. Mỗi năm cành và thân đào phát triển dài thêm được khoảng 3-5 cm.

3. Cành và thân đào thất thốn nói chung cứng và dòn nên khó uốn, nhất là khi đã hóa mộc.

4. Thân cây có nhiều vảy sẹo. Vỏ thân cây đã hóa mộc thường có màu xám trong khi thân đào Thất thốn Hà Nội có mầu nâu sậm.

5. Hoa đào Thất thốn Đà Lạt có màu hồng lợt với 5 cánh hoa, một vòi nhụy cái, khoảng 25 cuống và túi phấn hoa. Đào Thất thốn Hà nội có hoa kép cánh nhỏ hơn, màu đỏ sậm và thường ra hoa tập trung hàng loạt vào dịp tết. Đào Thất thốn Hà Nội ra hoa cũng dịp này nhưng trong khoảng thời gian kéo dài, rải rác hơn.

6. Quả đào Thất thốn Đà Lạt lớn, đường kính trung bình 4-6 cm, màu vàng có má hồng sậm. Hạt nhỏ hơn đào thường và trái có vỏ mỏng, ít lông. Đào thất thốn Đà Lạt cho quả rất sai. Hoa đào tự thụ phấn, không cần thụ phấn chéo với giống đào khác.

7. Thời gian thọ hàn ( chill collection) thấp vì giống đặc chủng từ thành phố Đà Lạt nơi có nhiệt độ mùa đông không kéo dài bằng Hà Nội.

8. Cây có giá trị trang trí 2 lần: một lần vào dịp tết khi cây ra hoa và một lần vào khoảng tháng tư âm lịch khi quả chín hồng trĩu cây.

9. Tuổi thọ của đào thất thốn chưa được xác định chính xác mà các nhà trồng trọt đều nhận xét là đào Thất thốn ở độ tuổi 20 vẫn cho nhiều hoa, trái nhiều. Riêng những cây ở Đa Thiện từ năm 1968 hiện nay vẫn phát triển tốt.

Đào Thất thốn Đà Lạt có thể nhân giống bằng cách ghép, chiết và gieo hạt nhưng cây được nhân giống từ hạt vẫn giá trị hơn vì dễ chăm sóc và có tuổi thọ cao hơn.

Yêu cầu về đất trồng và dinh dưỡng của đào Thất thốn cũng như đào bình thường ngoại trừ khi trồng trong chậu phải đưa đào ra ánh sáng khoảng 10 giờ/ngày trong đó có 6 giờ ánh sáng trực tiếp. Khi đặt cây ở mái hiên nên để cây đặt cây gần tường hướng về phía nam. Với vị trí đó cây sẽ có ánh sáng chiếu nhiều nhất là ánh sáng phản chiếu từ tường. Có như vậy đào thất thốn mới đủ điều kiện phát triển tốt và trái chín có màu đỏ sậm.

Đào thất thốn Đà lạt cũng chịu ảnh hưởng bởi sâu bệnh như đào thường như sâu đục lá và quả. Tuy nhiên, đào thất thốn ít bị sâu đục thân hơn có thể do thân gỗ cứng hơn đào thường. Đặc biệt lưu ý không trồng gần các cây thuộc họ Hoa Hồng để tránh lây nhiễm bệnh.

Đào thất thốn nói chung vốn có dáng tự nhiên đẹp không cần tạo thế. Tuy nhiên các nghệ nhân trồng đào thất thốn thường có các xu hướng sau:

Dạng hình nấm: Dạng này thường được các nghệ nhân ở Hà Nội ưa chuộng khi trồng đào thất thốn Hà Nội ( theo Báo Hà Nội điện tử- Mong manh phận đào Thất thốn)

Dạng cắt uốn theo các thế Bonsai: Một số nghệ nhân bonsai thường tỉa, uốn tạo các thế truyền thống ( theo luaviet.com.au/Essence of Vietnam).

Dạng cắt cành phát triển vươn ngang tự nhiên: Đây là dạng cây được bấm ngọn để tạo cành phát triển xa thân chính để cây hấp thụ được nhiều ánh sáng, cho trái nhiều, chín đỏ đều và ngọt.

Khái quát về hoa cát tường

Giới thiệu chung về hoa cát tường

Hoa cát tường có tên khoa học Eustoma grandiflorum (Raf.) Shinn có nguồn gốc từ miền tây nước Mỹ, có khả năng chịu lạnh tốt, du nhập vào Đà Lạt nước ta lần đầu tiên khoảng hơn 8 năm về trước với nhiều chủng loại và màu sắc đa dạng như: kem, tím, vàng, hồng, hồng phai, tím đậm, trắng viền tím… Cát tường không rực rỡ như hoa cúc và không lộng lẫy như hoa hồng nhưng lại thu hút khách bởi vẻ đẹp đơn sơ và bởi quan niệm cát tường là loài hoa mang lại nhiều may mắn.

Hiện tại cát tường là giống hoa được người tiêu dùng rất ưa chuộng và đang được sản xuất làm hoa thương phẩm. Hoa cát tường được sản xuất nhiều ở Đà Lạt vì điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng nơi đây rất phù hợp với đặc điểm sinh trưởng của nó. Ngoài ra, cát tường còn được coi là hoa chủ lực và làm lên thương hiệu nhiều vườn hoa như vườn hoa Lang Biang Farm.... Tại đây, với diện tích trồng hoa 6ha thì trồng hoa cát tường là chủ yếu đã cho những cành hoa thân cao, hoa lớn. Đó chính là điểm mạnh đưa hoa cát tường của Lang Biang Farm không chỉ nổi tiếng ở Đà Lạt mà cả ở TP. Hồ Chí Minh.

Hiện nay, do nhu cầu chơi hoa cát tường ngày càng tăng, hoa sản xuất ra không đủ cầu. Vì vậy, cuối tháng 3 vừa qua, Hiệp hội hoa Đà Lạt đã tổ chức hội thảo chuyên đề về qui trình kỹ thuật canh tác, thu họach hoa cát tường với sự có mặt của 10 nhà khoa học và hơn 40 người trồng hoa trên địa bàn Đà Lạt để trồng hoa cát tường có hiệu quả và cung cấp tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng.

II. ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG

Hoa cát tường phát triển tốt ở điều kiện 70 - 80 Klux ánh sáng tự nhiên. Do vậy vào mùa xuân hay mùa hè có cường độ ánh sáng cao nên thường phải che lưới cho hoa. Hoa cát tường thích hợp với vụ dài ngày, có số giờ chiếu sáng trong ngày tối ưu là 16 giờ trong ngày thì sẽ cho chất lượng bông cao nhất.

Nhiệt độ tối thích cho hoa cát tường sinh trưởng và phát triển là từ 18 – 20oC vào ban ngày và 15 – 18oC vào ban đêm. Nhiệt độ vào ban đêm thấp hơn 15oC sẽ làm trì trệ quá trình sinh trưởng của cây. Vào ban ngày, khi nhiệt độ cao hơn 28oC sẽ làm cho hoa nở sớm, rút ngắn quá trình sinh trưởng của hoa và cho hoa kém chất lượng. Tùy theo từng chủng loại giống mà có yêu cầu về nhiệt độ và quang chu kỳ khác nhau, do vậy trước khi trồng nên tìm hiểu chủng loại giống mà bố trí mùa vụ thích hợp.

Tính cả thời gian từ lúc gieo hạt cho đến khi cây ra hoa là từ 20 – 23 tuần.

III. Phân loại hoa cát tường

Giống hoa cát tường gồm có hai loại: Giống hoa kép và hoa đơn

1.Giống hoa kép:

- Nhóm Avilia: nhóm này thích hợp ở điều kiện ánh sáng yếu và nhiệt độ mát. Do vậy nhóm giống này thường trồng vào vụ đông. Các màu thường là trắng ngà, viền xanh, hồng cánh sen, đỏ tía.

- Nhóm Balboa: nhóm này thích hợp nhiệt độ và cường độ ánh sáng cao hơn. Thích hợp trồng vụ xuân đến hè. Phát triển tốt ở điều kiện quang chu kỳ ngày dài. Các màu thường là xanh, viền xanh, xanh tía.

- Nhóm Catalina: thích hợp với điều kiện ngày dài và thời tiết ấm áp. Các màu thường là xanh tía và màu vàng.

- Nhóm Candy: thích hợp với cường độ ánh sáng trung bình và quang chu kỳ ngày ngắn. Nhóm này cho hoa nở đồng loạt và có nhiều màu để chọn lựa.

- Nhóm Echo: Nhóm này là nhóm phổ biến trong giống hoa cát tường. Không thích hợp với cường độ ánh sáng quá cao hay thấp, thích hợp cho vụ đông xuân. Các màu phổ biến trong giống này là xanh bóng, xanh tía, hồng, hồng tía, trắng tuyền.

- Nhóm Mariachi: Nhóm này thích hợp trồng trong chậu. Đặc điểm giống này là có số cánh hoa nhiều, cánh hoa mỏng hơn các giống khác nên nhìn rất đẹp. Các màu phổ biến trong giống này là trắng, hồng, hồng nhạt, xanh…

2. Giống hoa đơn:

- Nhóm Flamenco: là nhóm thích hợp với cường độ ánh sáng cao và quang chu kỳ ngày dài. Thân hoa dài và mạnh. Các màu là xanh bóng, hồng, vàng, trắng.

- Nhóm Heidi: thích hợp với cường độ ánh sáng trung bình và quang chu kỳ ngày ngắn. Có nhiều màu để chọn lựa.

- Nhóm Laguna: là nhóm thích hợp với cường độ ánh sáng cao và quang chu kỳ ngày dài. Thân hoa dài khoảng 48 cm, một cây trung bình có ba thân và 25 nụ hoa. Có hai màu là xanh đậm và xanh tía.

- Nhóm Malibu: thích hợp với cường độ ánh sáng trung bình và trong mùa xuân và mùa thu. Có nhiều màu là hoa cà, xanh đậm, trắng, hồng, trắng viền xanh.

- Nhóm Yodel: Thân hoa dài khoảng 45 - 50cm. Có nhiều màu là xanh đậm, xanh, hoa cà, hồng phấn, hồng, trắng.

IV. KỸ THUẬT TRỒNG

Hoa cát tường được trồng có hiệu quả nhất khi được trồng trong nhà che Plastic.

1.Ươm giống:

Hạt giống hoa cát tường tương đối nhỏ (khoảng 19.000 hạt/gam) nên khó gieo trực tiếp ra đồng. Thường gieo vào vỉ xốp loại 200 lỗ. Giá thể dùng ươm thường là 30% xơ dừa + 30% đất mùn + 25% đất Feralit đỏ (đất mới) + 5% super lân và 10% phân chuồng ủ hoai .pH của giá thể vào khoảng 6 – 6,5. Sau khi gieo vào giá thể cần giữ ẩm thường xuyên để hạt nảy mầm và phát triển. Nhiệt độ thích hợp cho quá trình nảy mầm của hạt là 20 – 22oC. Quá trình nảy mầm diễn ra trong vòng từ 10 – 20 ngày. Nhiệt độ của nhà ươm cây không nên vượt quá 22oC. Nhiệt độ tối ưu cho cây con phát triển vào khoảng 15 – 18oC. Giữ độ ẩm giá thể vào khoảng 70 – 80%, không nên tưới nhiều làm ẩm độ quá cao cây con sẽ dễ bị nhiễm bệnh. Chăm sóc hàng ngày và phun thuốc định kỳ tuần/lần các loại thuốc diệt nấm như Zinep, Kasuran ……… và các loại thuốc diệt sâu như Sumi anpha, Regent, Pegasus… Cần tạo sự thông thoáng trong nhà ươm để giá thể không bị ẩm độ quá cao sau khi tưới. Khoảng 3 tháng sau khi gieo, cây có 2-3 bộ lá thì có thể xuất vườn ươm để trồng ra ngoài đồng.

2.Chuẩn bị đất trồng:

Hoa cát tường có thể phát triển tốt trên nền đất có hàm lượng chất hữu cơ cao (đất bón phân chuồng hoai mục nhiều). Trước khi trồng đất cần được cày phơi ải, xử lý vôi và thuốc phòng trừ tuyến trùng, sên nhớt như Furadan… Sau khoảng 2 – 3 tuần phơi ải và xử lý đất, dùng phân chuồng đã ủ với chế phẩm Trichoderma và Super lân 5% vào thời điểm khoảng 1 tháng trước đó bón với lượng 10 m3/1000 m2. Bổ sung thêm một lượng phân khoáng NPK (16:16:8) : 50 kg//1000 m2. Độ pH thích hợp từ 6,3 – 6,5. Rãi phân đều trên mặt luống, trộn và xăm trộn đều trên tầng đất mặt (20 – 30 cm) và tiến hành trồng cây.

3. Mật độ & khoảng cách trồng:

Thiết kế rò rãnh 1,3 m, luống cao 15 – 20 cm để tạo độ thông thoáng . Trên mặt luống trồng từ 5 – 6 hàng với hàng cách hàng khoảng 15 – 18 cm, trên mỗi hàng trồng cây cách cây từ 10 – 12 cm. Mật độ trồng đạt khoảng 50 – 60 cây/m2. Vào mùa mưa có thể trồng thưa hơn để hạn chế bệnh phát triển và lây lan.

Trong quá trình trồng chọn lựa những cây có bộ rễ phát triển tốt, lấy cây nhẹ nhàng ra khỏi vỉ xốp hạn chế tối đa việc làm thương tổn bộ rễ cây con và bể bầu đất ươm cây. Trồng và lấp đất ngang cổ thân, tránh trồng quá sâu có thể làm thối rễ cây con. Sau khi trồng cần quản lý tốt độ ẩm đất nhằm giúp cho cây con mau chóng hồi phục và phát triển tốt trên vườn. Trong ngày phải tưới từ 2 – 3 lần vào thời điểm 5 giờ sáng, 10 giờ sáng và 2 giờ chiều để giữ ẩm cho cây con bén rễ tốt. Sau 10 – 15 ngày khi cây con bén rễ, giảm số lần tưới xuống còn 1 – 2 lần/ngày tùy theo điều kiện thời tiết là trời râm hay nắng gắt.

4. Chăm sóc:

4.1 Tưới nước:

Độ ẩm đầy đủ là cần thiết cho sự sinh trưởng của hoa cát tường, tuy nhiên nếu duy trì độ ẩm quá cao và thường xuyên sẽ làm cây bị nhiễm một số bệnh nguy hiểm có trong đất như bệnh lỡ cổ rễ (Rhizoctonia solani), bệnh héo vàng (Fusarium solani), bệnh thối đen rễ (Pythium spp.)…

Khi tưới cho hoa, thời điểm tưới thích hợp vào khoảng 5 – 8 giờ sáng, tưới vào thời điểm này sẽ làm cho đất hạn chế độ ẩm trong đêm, do đó ít phát sinh bệnh hại trên cây hoa cát tường đang phát triển .

4.2 Che lưới đen:

Hoa cát tường yêu cầu lượng ánh sáng cần cho quá trình quang hợp không cao, do vậy cần che một lớp lưới đen để giảm bớt từ 30 – 40% ánh sáng nhằm giúp gia tăng chiều dài cành hoa. Tuy nhiên vào các tháng mưa nhiều ở Đà Lạt (tháng 7,8,9) cần tháo bỏ lưới che để hạn chế bệnh do nấm hại phát triển, nhất là nấm mốc đen (Botrytis cineca) gây hại trên thân và lá của hoa.

4.3 Cắm cọc và giăng dây đỡ:

Sau khi trồng khoảng 1 tháng, cần tiến hành giăng lưới đỡ cây. Đóng nọc và giăng lớp lưới đầu tiên, thường sử dụng lưới đan bằng kẽm hay cước nylon có kích thước mắt lưới là 15 cm x 20 cm. Lớp lưới đầu tiên đặt cách mặt đất 30 cm, lớp lưới thứ hai cách lớp đầu tiên khoảng 15 cm – 20 cm. Hai lớp lưới này giúp cây hoa không bị ngã đổ và giữ cho cành hoa được thẳng.

4.4 Tỉa nụ hoa:

Sau khi trồng từ 10 – 13 tuần cây sẽ cho nụ hoa đầu tiên. Cần tỉa bỏ nụ hoa đầu tiên này để các chồi bên ra hoa đồng loạt. Có một số giống không cần tỉa nụ hoa này mà cây vẫn cho hoa đồng loạt.

Sau khi thu hoạch đợt bông đầu, cây sẽ có thời gian nghỉ khoảng 6 – 8 tuần mới cho bông đợt hai. Năng suất thu hoạch đợt bông lần hai chỉ bằng khoảng 20 – 30% so với năng suất lần đầu.

4.5 Bón thúc:

Sau khi trồng 3 tuần, bón thúc 20 kg NPK(16:16:8) + 10 kg kali trắng/1000 m2.

Sau khi trồng 6 tuần, bón thúc 30 kg NPK(20:20:15) +10 kg kali trắng /1000 m2.

Sau khi trồng 9 tuần, bón thúc 30 kg NPK(15:5:20)/1000 m2.

Sau thu hoạch lần một 2 tuần, bón thúc 20 kg NPK(16:16:8)+10 kg kali trắng /1000 m2.

Sau thu hoạch lần một 4 tuần, bón thúc 30 kg NPK(20:20:15) +10 kg kali trắng /1000 m2.

Khi bón phân đơn chú ý nên bón đạm ở dạng phân Nitrat, thường bón lượng đạm cân bằng với lượng phân Kali vào giai đoạn từ khi trồng đến khi hoa tượng nụ. Khi hoa bắt đầu tượng nụ, nên bón phân giảm hàm lượng đạm và tăng hàm lượng kali để tăng chất lượng hoa. Trong quá trình bón không nên rãi phân sát gốc hoa, thường bón kết hợp với việc xới xáo, làm cỏ. Sau khi bón xong cần tưới đẫm cho tan phân để cây hấp thu.

Canxi cũng cần thiết trong quá trình sinh trưởng &phát triển của cây, tuy nhiên hoa cát tường không thích hợp khi trồng trên nền đất có hàm lượng canxi cao.

Chuyên đề về Bonsai

I. Giới thiệu về Bonsai

Bonsai là loại nghệ thuật tạo dáng truyền thống, độc đáo của thời cổ Trung Quốc. Bonsai là dùng cây kiểng, đá núi và các loại vật liệu khác, qua nghệ thuật gia công và chăm sóc tỉ mỉ tạo thành tác phẩm nghệ thuật.

Bonsai là hình ảnh thu nhỏ của vẻ đẹp thiên nhiên. Qua nghệ thuật gia công từng phiến đoạn cảnh đẹp thiên nhiên, có tư thế sinh động đẹp đẽ. Trong sáng tác thường ẩn chứa một nội dung tư tưởng và kết hợp nghệ thuật thi họa, gốm sứ, điêu khắc để Bonsai hoàn mỹ mang ý thơ nét họa ngây ngất lòng người.

Bonsai cũng có sức sống của điêu khắc nghệ thuật. Nó tùy theo sự biến hóa của thời tiết đem lại màu sắc với cảnh quan nghệ thuật khác nhau. Vì vậy, người ta nói Bonsai là "thơ ca vô thanh, hội họa lập thể".

Bonsai qua nghệ thuật gia công phản ánh một nội dung tư tưởng nhất định lại có một hình thái nhất định, cảnh quan nhất định. Đồng thời cây đá trong Bonsai phải phối hợp với bồn thể (chậu cảnh) khung giá. Cần phải hòa hợp với nhau, dựa vào nhau và cấu tạo thành một hình tượng nghệ thuật mới hoàn mỹ và phát huy mạnh mẽ hiệu quả nghệ thuật của Bonsai.

Bonsai không những có giá trị chiêm ngưỡng rất cao mà còn làm phong phú cuộc sống, nâng cao trình độ nghệ thuật làm lục hóa, mỹ hóa và sạch môi trường sống để có lợi cho sức khỏe, trở thành một loại nghệ thuật quý báu của con người.

Phong cách nghệ thuật Bonsai được hình thành có ảnh hưởng bởi điều kiện lịch sử và khí hậu địa lý.

Các nhà nghệ thuật Bonsai khi sáng tạo đặc sắc nghệ thuật và phong cách hình thành Bonsai đều xuất phát từ quan điểm cá nhân, trình độ nghệ thuật và quá trình sinh sống cũng như tính cách cá nhân, tư tưởng và tình cảm, ý thích v.v.. Ngoài ra, vật liệu các nơi khác nhau, truyền thống tập quán khác nhau nên đề tài sáng tác và thủ pháp biểu hiện cũng có sự khác nhau.

Bonsai hình thành trải qua nhiều đời lưu truyền nên phong cách ổn định và được nhiều người thừa nhận, từ đó hình thành các trường phái nghệ thuật Bonsai khác nhau.

II. Đặc điểm Bonsai

Theo quan niệm của mỗi trường phái, bonsai có những đặc điểm như sau:

1. Theo trường phái Bonsai An Huy

Khu vực Huyện Hợp và Vân Nam của An Huy bốn mặt là núi vây quanh nên dân chúng ở đây đời đời kiếp kiếp trồng cây trên sườn núi để dùng cho Bonsai. Vì thế họ có kinh nghiệm phong phú về trồng trọt và tạo dáng, hình thành một phong cách nghệ thuật độc đáo, trở thành một phái gọi là phái An Huy.

Chậu cảnh phái An Huy với đặc điểm là màu xanh (thương cổ) độc đáo.

Các loại cây phái An Huy dùng là cây Mai, La Hán tùng, Hoàng sơn tùng, Hội bách, Thúy bách, Đào Quế hoa, Tử Vi, Nam thiên trúc... nhất là cây Mai nổi tiếng là "Huy Mai".

Chậu cảnh Mai trang có lục ảo, Cốt Lý Hồng và Tống Xuân Mai... là những loại cây quý. Tạo dáng Huy Mai cơ bản là thuộc loại hình quy tắc, cái độc đáo của nó là thân cây tạo dáng rất tinh xảo, đối xứng nhau.

Bonsai An Huy tạo dáng đều bắt đầu từ cây non, rồi dùng gậy cắm vào đất làm vật chống cây giúp tạo dáng. Mỗi năm tiến hành một lần, chủ yếu là uốn cong hình thể cành lớn, còn cành nhỏ thì không phải gia công.

Một chậu cảnh Mai Huy từ lúc đánh rễ cho đến khi định hình thường phải trải qua 10 năm. Đặc điểm của nó không phải là gửi mà cũng là cả già (lão) nữa...

Mai Huy tạo dáng có các loại:

a. Loại Du Long cũng gọi là Long cảnh

Thân cây từ rễ đến ngọn uốn dần thành hình chữ "S" nom tựa Rồng lượn. Hai bên cành trái và phải đều đặt vào chỗ lõm thân cây hình thành hình chữ "S" cong lên. Trái phải đối xứng bằng nhau.

b. Loại Tam đài (3 bậc)

Thân cây không cao, chỉ có 2,3 tầng cong. Cành lá bên trên hình thành ba phiến. Tầng thứ rõ rệt. Mỗi phiến đều hình thành hình Thủy bình (ngang bằng) hay bán cầu.

c. Loại Tý Can

Đem bổ cây Mai thô không thành hình hoặc bị già yếu, lấy đi các chất gỗ trong thân cây mà chỉ giữ lại lớp vỏ cùng mấy cành cây đợi chỗ vết thương mủn ra rồi mới ghép cành lá vào với ý nghĩa cây khô đón xuân đến.

Dùng các loại hình dáng cây khác còn có các kiểu xoáy, bình phong... Ngoài tạo dáng kiểu quy tắc ra, Bonsai An Huy cũng có các loại cây cảnh dạng tự nhiên, thân cây hơi cong còn các cành đều dùng phương pháp tạo dáng cắt trả để mô phỏng hình dáng cây thiên nhiên, tạo dáng hoàn mỹ.

2. Theo trường phái Bonsai Thượng Hải

Bonsai Thượng Hải là trường phái nghệ thuật Bonsai thành phố Thượng Hải.

Bonsai chậu cảnh tự nhiên phóng khoáng, quy cách hình thức muôn hình muôn vẻ: có loại Bonsai nhỏ, cũng có loại Bonsai siêu nhỏ. Cách chăm sóc là từ lúc nhỏ, cũng có loại đào trên núi mang về chăm sóc. Tạo dáng đều dùng phương pháp "Bó thô cắt nhỏ".

Trước tiên lấy giàn thép bó lại các nhánh chính, sau một năm cởi dây ra và gia công cắt tỉa. Hình thức gia công muôn hình muôn vẻ, sau khi thành hình các nhánh cây sẽ uốn cong tự nhiên, đường nét sáng sủa, các lá cây sẽ phân bổ từng ô, hình thành tự nhiên.

Căn cứ vào đặc trưng các loại cây cũng như thần sắc, vòng cây hình thành một cách tự nhiên, tránh tạo dáng mềm yếu và cứng nhắc. Phái Thượng Hải Bonsai thường thông thoáng, tầng lớp rõ rệt, biến hóa phong phú như vẽ trong tranh nên có phong cách độc đáo, riêng biệt.

Các loại cây dùng cũng phong phú ước có hơn trăm loại, thường có Ngũ kim tùng, Hắc tùng, La Hán tùng, Chân bách... Ngoài ra còn có cây Du, Phong, Tước Mai, các loại trúc Trảo tử, Hoàng Dương, Lục nguyệt sương, Nam Thiên trúc, Thạch lựu...


3. Theo phong cách Bonsai Dương Châu

Bonsai Dương Châu lấy trung tâm là Dương Châu tiêu biểu cho phong cách Bonsai khu vực phía Bắc Giang Tô.

Chậu cảnh Bonsai Dương Châu có đặc điểm lấy quấn để tạo dáng đều phải gia công từ lúc còn non.

Căn cứ vào nét họa "chi vô thốn trực" đem cành uốn hình con rắn, dày một tấc ba vòng, khiến cành lá cắt bó thành hình vân phiến (mảnh mây) cực mỏng. Thân cây thành hình xoắn ốc cong lại. Cây có hình bậc thang 1 - 3 tầng và nhiều tầng.

Chậu cảnh Bonsai Dương Châu thường rải sỏi trong chậu gọi là điểm thạch. Lấy sỏi đá so sánh với thực vật làm cho cây có khí thế ngút trời, đồng thời tăng thêm dáng vẻ tự nhiên.

Bonsai Dương Châu còn 1 loại đặc biệt là kiểu Thủy hạn, nghĩa là trong chậu cảnh có một phần đất, còn 1 phần là nước. Như vậy có sơn thủy lại trồng cây nên rất được ưa chuộng.

Cùng với loại này còn có loại Hạn bồn thủy ý dùng đá cuội nhỏ để thay cho nước chảy, tuy không trữ nước song có cảm giác như nước chảy.

Loại cây gồm chủ yếu với cây Tùng, Bách, Du, Dương (Trảo tử Hoàng dương) và La hán tùng, Nghênh Xuân, Lục nguyệt sương v.v..

Bonsai truyền thống Dương Châu còn có loại hòn non bộ, loại treo và loại treo rễ cây.

4. Theo phong cách địa phương của Bonsai Tô Châu

Bonsai Tô Châu lấy thị trấn Tô Châu làm trung tâm, tiêu biểu cho phong cách Bonsai khu vực phía Nam tỉnh Giang Tô. Hình thức truyền thống của trang cảnh là lấy quy tắc làm chủ. Tạo dáng điển hình là thân cây đứng có 6 đài ba thác một đỉnh.

Toàn bộ lấy quấn làm chính và cần tới hơn 10 năm thì quá trình gia công mới hoàn thành.

Chậu cảnh Tô Châu lấy Bonsai cây cảnh là chính, phần lớn là đào các cây cổ ở núi, rồi ghép thêm cành vào dùng phương pháp chỉnh hình "quấn thô cắt nhỏ" hình thành.

Các loại cây gồm các loại cây có lá như Tước Hải, cây Du, Tam giác phong, Thạch lựu và Mai.

Chậu cảnh Bonsai Tô Châu có hình thức truyền thống là loại Bình phong, Thuận phong, Thùy kỷ thức và Bế can thức...

Mấy năm gần đây, chậu cảnh Tô Châu phái đã phá vỡ phương pháp truyền thống lấy thiên nhiên làm đẹp, phản đối tạo dáng mềm mại, dùng quấn là chính trở thành dùng cắt là chính, lấy quấn làm cơ bản.


5. Theo phong cách Bonsai Tứ Xuyên

Bonsai Phái Tứ Xuyên lấy Thành Đô làm trung tâm, tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật Bonsai tỉnh Tứ Xuyên.

Bonsai Tứ Xuyên phái có những quy tắc phong phú đa dạng, có nhiều danh mục và mỗi thứ lại có cách luật riêng. Thân cây và cành cây ngay lúc nhỏ phải uốn cong với các cách khác nhau, thường chú trọng cấu đồ không gian lập thể.

Các kiểu Bonsai có kiểu "treo buộc", treo vuông, treo đối nhau, rồng cuộn tam loan cửu đáo, đại loan tùy chí. Phần rễ đều dùng nhiều loại rễ giao nhau hay rễ treo lộ trảo. Các loại giống cây dùng cho Bonsai là Kim thiên tử, Thiếp canh hải đường, La hán tùng, Lục nguyệt sương, Mai, Thạch lựu, Trúc U...

Mấy chục năm nay, Bonsai Tứ Xuyên dựa trên cơ sở truyền thống, sáng tạo ra một loạt các kiểu dáng tự nhiên có màu sắc tự nhiên.


6. Theo phong cách địa phương của Bonsai Lĩnh Nam

Bonsai phái Lĩnh Nam lấy Quảng Châu làm trung tâm, tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật Lưỡng Quảng (Quảng Đông và Quảng Tây).

Những nhà làm Bonsai đã dùng cảnh sắc "nhấp nhô chập chùng" để sáng tạo ra phương pháp tự hình "cắt tỉa". Loại chỉnh hình này có tỉ lệ thích đáng giữa cành và lá, trên dưới đều nhau, chú trọng đường cong ở rễ, thân và cành. Cây có dáng tự nhiên không gò bó. Mặc dù do bàn tay người tạo ra song đem lại sự hưởng thụ cái đẹp thiên nhiên hình thành một phong cách độc đáo.

Hình thức thường thấy của Bonsai Lĩnh Nam là hình đại thụ, thân cây chắc khỏe, rễ cây sum xuê, lá mọc rậm rạp.

Bonsai Mộc Miên thân cây mộc thẳng, cành bên bằng nhau.

Loại Bonsai kiểu vách núi chia ra loại toàn bộ và một nửa; song đều dùng cách chiết cành ghép thân nên có dáng khỏe mạnh.

Bonsai loại rừng cây gồm ba cây trở lên hợp thành, mô phỏng cảnh rừng rậm có không khí thiên nhiên.

Loại cây thì thường chọn các cây Du, Tước Hải, Cửu Lý Hương, Trà Phúc Kiến... có mầm mọc nhanh và khỏe.

III. Phân loại Bonsai

Bonsai theo kích thước lớn nhỏ chia thành 4 loại: Bonsai loại lớn, Bonsai loại trung (vừa), Bonsai loại nhỏ và Bonsai cực nhỏ.

- Bonsai loại lớn: là loại chân dài 100cm, rộng 70cm trở lên, thích hợp đặt ở nơi có không gian lớn như hội trường, sân nhà, công viên, trường học. Loại này cảnh diện rộng có thể tái hiện cảnh núi non hùng vĩ.

- Loại Bonsai vừa: là loại chậu dài từ 40 - 100cm, rộng từ 25 - 70cm, thích hợp đặt ở phòng họp hay phòng đọc sách. Nó không thể hiện cảnh rộng như loại Bonsai lớn, song một dòng suối, một ngọn núi cao và cảnh vật đơn lẻ trong cảnh thiên nhiên cũng thật đẹp.

- Loại Bonsai nhỏ: là loại chậu dài từ 20 - 40cm, rộng từ 13 - 25cm, thích hợp để phòng ngủ, bàn làm việc, cửa sổ bàn trà. Loại này thể hiện một đoạn bờ sông, một đám cây hay một cảnh sơn thạch (núi non) loại nhỏ.

- Mấy năm gần đây có nơi còn có loại siêu nhỏ: loại Bonsai này có thể nhỏ đến mức để trên ngón tay nên gọi là Bonsai ngón tay. Người ta thường dùng loại chậu đường kính chưa đầy 5cm, dùng đặt ở đầu giường, cửa sổ. Bonsai siêu nhỏ lấy chậu cây là chính, còn Bonsai non bộ là thứ. Nói chung chỉ là hình thái đẹp đẽ của tạo hình một cây thực vật.

Tuy nhiên, căn cứ vào biểu hiện cảnh sắc tự nhiên với các diện mạo cũng như người sáng tạo ra các loại kiểu Bonsai khác nhau nên cũng có thể phân loại như sau:

Trước tiên căn cứ vào vật liệu tạo hình và quá trình sáng tạo khác nhau chia thành Bonsai Cây Cảnh và Bonsai Non Bộ. Đó là hai loại chính của Bonsai.

Sau đó là căn cứ vào Bonsai lớn nhỏ, cao cấp mà chia thành Bonsai loại cực lớn, loại lớn, loại vừa, loại nhỏ và loại thật nhỏ. Người ta còn gọi loại cực nhỏ là loại vi hình hay tụ chân (xách tay). Ngoài ra cũng còn căn cứ vào phương pháp bài trí khác nhau mà chia thành Bonsai mặt đất, Bonsai trên giá và Bonsai treo (án đầu).

Ngoài ra còn có loại Bonsai đem chậu Bonsai dựng đứng vào các khung giá, mặt bồn tạo cảnh sơn thạch và trồng thảo mộc để nó thành Bonsai kiểu đứng.

Sau đây, xin giới thiệu một số kiểu dáng Bonsai chủ yếu trong nghệ thuật trồng Bonsai:

a. Thế ngũ nhạc

Thế này trồng bằng năm cây kiểng trong một cái chậu hay cái khay to làm cảnh núi rừng, mỗi cây có một dáng riêng biệt có thể đứng hết, hoặc cây đứng cây xiêu, cây nằm, nhưng phải có lớn có nhỏ như sơn thủy mới đẹp. Cũng có thể xếp hình chữ ngũ. Xếp “ngũ lão giản đình” năm ông già đàm đạo phải xếp vòng tròn nhưng xếp thể rừng là đẹp nhất. Thân cành nhánh phải hài hòa, làm sao có tính cách giao chi, hỗ tương với nhau, nếu thiếu một cây thì thấy không đẹp. Thế ngũ nhạc cũng uốn bằng năm cây cùng một loại như mai chiếu thủy, tùng, cần thăng, kim quýt, đều đẹp.

b. Thế quần thụ tam sơn

Là ba cây kiểng nằm chung trong một chậu to. Còn gọi là tam tài, ba cây kiểng trực thọ đứng gần ngay hàng, cây cao chính giữa, hai cây thấp hơn ở hai bên, nhưng có thể so le một tý, cây to có 5 tàn, hai cây lùn chỉ cần ba tàn, có thể giao cành với nhau làm thế nào ba cây cân đối mới đẹp và ba cây cũng liên kết với nhau, nếu thiếu một trong ba cây là mất hết vẻ đẹp. Cho nên thế tam sơn biểu tượng cho sự đoàn kết. Thế tam sơn nên uốn với cây tùng, cây bách, xếp thành hình chữ sơn là núi rất đẹp.

C. Thế lưỡng long tranh châu

Thế này phải uốn với song thọ trồng chung vào một chậu, uốn đối xứng thành hai con rồng uốn khúc, giao đầu tranh hạt minh châu nằm ở giữa, là thế kiểng cổ thường thấy uốn với hai cây mai chiếu thủy hay cần thăng kim quýt, ngày nay thường uốn với cùm nụm rô nhanh chóng hơn với nòng bằng kẽm, trồng cây lên tới đâu, gài vô tới đó vài ba năm là thành, thân hai con rồng uốn khúc, đấu đầu lại nhìn quả châu, các nhánh làm chân và mây, đuôi ngẩng lên xòe ra như múa rất đẹp. Nếu uốn với hai cây mai chiếu thủy thì rất quý.

Thế này còn nhân ra “sư tử hí cầu” là hai con sư tử giỡn với quả cầu, cũng là hai cây uốn đối xứng với quả cầu rất đẹp. Cũng như thế (loan phụng hòa minh), hai con loan và phượng múa quấn quýt lấy nhau như cặp uyên ương duyên dáng...

D. Thế long đàn phượng vũ

Thế này bay bướm hơn, có nghĩa là chim phượng hoàng múa trên mình rồng. Đây là thế có thể uốn với một cây, hoặc hai cây trồng chung một chậu. Phải cây cổ thụ gốc to, uốn nằm trên miệng chậu, gốc ngẩng lên làm đầu rồng. Thân uốn cong hạ thấp, các chi xòe ra bốn phía làm chân và mây, ngọn ngã về phía sau làm đuôi rồng, cây thứ hai có hai rễ chẻ ra làm chân phượng, thân ngã ngang qua ôm lấy mình rồng, các cành hậu thân uốn làm đầu và đuôi chim phượng, hai cành tả hữu xòe ra làm hai cánh chim uốn với dáng đang múa, ngọn làm mây. Thế này uốn cho thật dịu dàng mềm mại như phượng đang múa, tàn nhánh xòe ra, trên mình rồng uốn khúc nhịp nhàng. Thế chim phượng múa trên lưng rồng là tuyệt đẹp, biểu tượng cho quyền uy của vua chúa, ngày xưa chỉ có ở trong cung đình.

e. Thế long bàn hổ phục

Thế này cũng có thể uốn với một cây kiểng to có hai thân hoặc với hai cây trồng chung một chậu.Thế long bàn hổ phục có nghĩa là rồng nằm uốn khúc và hổ cũng nằm sát đất chịu khuất phục để chầu chủ nhân. Thế này rất khó uốn, phải có bộ rễ thành hình chân thú nằm xòe ra phía trước, tả thanh long, hữu bách hổ, hai chân hổ chồm ra, hai chân rồng ngấu xuống: cây thanh long, gốc nằm trên mặt chậu, đầu ngẩng lên, thân uốn cong làm mình rồng, cành tả hữu uốn theo lối chiết chi làm mây, hai cành trước sau làm chân xòe móng ra, ngọn hồi đầu làm đuôi, uốn dáng mềm dẻo, uyển chuyển. Cây bên phải, gốc thân bò trường lên chậu, đầu cúi mọp xuống, các chi tỉa nhỏ ôm lấy thân để trang trí, ngọn vươn lên làm đuôi, tỉa theo tàn chổi nhỏ, Thế long bàn hổ phục có hình dáng nằm chầu khuất phục hiền hòa, nhưng không kém phần uy nghi, biểu tượng cho quyền lực, rất hay rất đẹp.

f. Thế long mã hồi đầu

Thế này gồm hai cây to riêng biệt hay cùng gốc, nhưng một cây cao một cây thấp, rễ xòe ra theo chân thú, cây thấp thân to, ngắn nằm ngang, ngọn làm đầu ngẩng lên, không tàn nhánh, tạo dáng con ngựa nằm quay đầu trở lên. Cây cao uốn thân long, cong cong vặn vẹo, phân chi theo lối tứ diện, xòe ra bốn phía làm chân và mây, ngọn uốn tàn to như bông sen rồi bẻ cúp xuống làm đầu rồng quay trở lại.

Thế này rất khó uốn, mới đầu phải lựa những cây mềm dẻo như mai, có nhiều rễ để uốn chân thú nằm xòe ra như chân ngựa, uốn làm sao cho không phải giải thích mà người xem biết mới hay, cho hài hòa mới đẹp.

Chuyên đề: Kiểng cổ Nam Bộ


Nói đến kiểng xưa, kiểng thế ta nhận thấy kiểu hình của nó rất đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, cây kiểng cổ được uốn sửa theo lối chiết chi nghị diện, thế tam tùng tứ đức là một dạng thức đặc biệt, rất đặc trưng cho khu vực Nam Bộ. Đây là một kiểu thức đại diện cho cây kiểng xưa ở miền Nam mà không nơi nào có loại hình này.

I- Nguồn gốc của kiểng cổ

Về nguồn gốc, có thể nói từ khi Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh, người có công khai phá vùng đất phía Nam, và đã đưa những lưu dân ào lập ấp, xây dựng cuộc sống mới. Trong dòng người lưu dân này (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Qui Nhơn...) rất đa dạng về thành phần, còn có một số người có điều kiện hơn nhưng họ chán ghét cuộc đời làm quan; thêm vào đó là chiến tranh liên miên giữa Chúa Nguyễn và Chúa Trịnh làm cho dân chúng ngày càng cơ cực. Cho nên họ là những con người có thể do được chiêu mộ, bị lưu đày hay tự động bỏ xứ mà tìm vào phương Nam mưu cầu một cuộc sống mới. Chính điều này ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần, tư tưởng của họ trong quá trình xây dựng, phát triển cuộc sống trên vùng đất mới và cũng có thể nói rằng trong tư tưởng của họ vẫn còn một hoài niệm về cố hương, họ vẫn không quên nguồn gốc của mình, không quên đạo làm người, dù có bỏ xứ, bỏ chùa mà đi. Điều này thể hiện rất rõ trong phong cách, lối uốn sửa tạo dáng cây kiểng xưa mà chúng ta đang xem xét.


Theo thời gian những người ở đất phương Nam, dần dà xây dựng được sự nghiệp. Cùng với sự phát triển về kinh tế, sự phân hóa trong xã hội đã xuất hiện, một số điền chủ có tài sản ngày càng nhiều, ngay cả người nghèo cũng có một cuộc sống khác hơn thời cha ông lúc còn ở bổn quán. Một cuộc sống mới đã xuất hiện trên vùng đất mới, tuy còn hoang sơ nhưng nhàn. Điều kiện sống tốt hơn, việc trồng cây kiểng hưởng nhàn dần dà định hình trong xã hội. Có lẽ vì tưởng nhớ công ơn của Ông Nguyễn Hữu Cảnh, sợ phạm úy, mà người phương Nam đọc trại từ "Cây cảnh" thành ra "Cây kiểng".

II. Đặc điểm của kiểng cổ Nam Bộ

Do ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng Lão giáo, con người muồn gần lại với thiên nhiên hơn và do ảnh hưởng của Nho giáo, nên những bậc tiền thân dù xa quê cha, đất tổ vẫn không quên được nguồn cội và đạo làm người. Cho nên trong quá trình tạo lập cây kiểng họ muốn gởi gắm tinh thần, tâm ý của mình vào từng chậu cây, từng tán lá, nhằm mục đích sửa mình và giáo dưỡng con cháu. Cây được sửa có ngọn qui căn, hồi đầu (thể hiện sự không quên nguồn cội). Thế tam cang ngũ thường hay tam tùng tứ đức (thể hiện đạo làm người ở nam hay nữ thật rõ ràng). Như vậy tư tưởng, triết lý sống của người xưa được hình tượng hóa rất rõ nét qua dáng thế của cây kiểng cổ.

Tên gọi kiểng cổ chỉ mới xuất hiện ở vài thập niên sau này, từ khi loại hình Bonsai của Nhật Bản lan rộng vào miền Nam. Trước kia người ta chỉ gọi là cổ mộc, cây thế, cây cảnh. Đến bây giờ khi nghe từ "kiểng cổ" đại đa số người chơi cây cành đều liên tưởng đến loại hình kiểng chiết chi nhị diện và nó gần như là một định danh cụ thể cho loại hình kiểng này.

Cây kiểng cổ là cây được uốn sửa một cách công phu, đúng số tán, đúng nhánh, không thừa, không thiếu, mỗi thành phần trong cây đều có một giá trị nhất định, tiềm ẩn một triết lý sống thật cụ thể.


Cây kiểng lấy số 3, 5 làm căn bản do xuất phát từ nguyên lý âm dương, ngũ hành... thường sử dụng số lẻ, ít khi sử dụng số chẵn, ngoài trừ một số cây thể hiện các điển tích. Bộ kiểng cổ ban đầu thường là bộ năm cây gọi là "Ngũ phúc" được xếp theo hình chữ ngũ. Bộ 3 cây gọi là bộ "Tam tài" xếp thẳng hàng. Cây trung bình được xếp ở giữa. Về sau này vì nhiều lý do rất khác nhau, kiểng cổ chỉ còn được thưởng ngoạn ở một cặp đối xứng nhau.

Cây trung bình ở giữa bộ kiểng là cây chủ, thường có tầm vóc cao hơn, cành nhánh được uốn chiết chi theo kiểu âm - dương và thường được sửa theo thế thất hiền hay ngũ phúc.

Các cây hai bên thường thấp hơn, thân được uốn hơi cong theo dáng xuy phong, tùy theo dáng cơ bản và tính chất của cây mà nó sẽ được uốn sửa theo thế mẫu tử hay phụ tử.

III. Phân loại kiểng cổ Nam Bộ

1. xét về mặt tính chất:

- Cây đại diện cho phái nam là cây xuy phong thế phụ tử. Hình dáng của cây mạnh mẽ, gân guốc. Cành nhánh được uốn sửa thiên về dương tính, phóng thoáng, nét mạnh (kiểu tàn võ). Cây thường được sửa theo thế "Tam cang ngũ thường" tiêu biểu cho đạo làm người của phái nam trong thời kỳ đó. Tam cang là: quân thần cang (đạo vua tôi), phu thê cang (đạo vợ chồng), phụ tử cang (đạo cha con). Ngũ thường là: năm đức tính của người nam đó là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Nhìn chung đó là giềng mối, phẩm chất của đạo làm người, của người quân tử trong xã hội.

- Cây đại diện cho phái nữ là cây xuy phong thế mẫu tử. Hình dáng cây thường mềm mại uyển chuyển. Cành nhánh được uốn sửa một cách ẻo lả hơn, thiên về âm tính (kiểu tàn văn), cành có thể uốn tréo qua thân (tréo chữ nữ) biểu hiện cho nữ tính, cho nên thông thường những loại cây có hoa, có hương thơm thường được sử dụng cho loại hình này. Cây kiểng được sửa theo ý này là cây "Tam tùng tứ đức". Tam tùng đó là: tùng phụ, tùng phu, tùng tử. Tứ đức là bốn đức tính của người phụ nữ: công, dung, ngôn, hạnh.

Việc uốn sửa cây kiểng cổ tuân thủ một cách nghiêm nhặt các quy tắc âm - dương.

2. Xét về hình thái

Cấu trúc thân cành ở cây xuy phong thế tam cang ngũ thường thấy:

Phần gốc thân được trồng và sửa theo một góc nghiêng khoảng 45o so với mặt đất, phần thân bên dưới được uốn cong cho đến khoảng giữa của chiều cao, thân được uốn hướng vào trực chính tâm, phần thân còn lại đến ngọn được uốn lượn nhẹ, cuối cùng ngọn cũng đi vào trục chính tâm của gốc (quy căn) nhằm biểu đạt một điều: Dù có đi xa, phát triển tới đâu cũng không hề quên nguồn cội. Cây tử phát xuất từ gốc cha hợp thành một góc khoảng 90o. Chiều cao của thân cây tử không vượt quá tàn thứ hai của cây chính và được uốn hơi cong theo chiều ngược lại với cây cha.

Cây cha có cấu túc 5 tàn: Gốc xiên về phía bên phải thì tàn thứ nhất được uốn về phía bên phải. Đoạn thân thứ hai uốn cong nhẹ vào trong, tàn thứ hai được uốn về phía trái tuân thủ nguyên tắc Âm - Dương. Đoạn thứ ba được uốn cong vào chính trục tâm của góc, tàn thứ ba được uốn về phía bên phải theo lối chiết chi. Đoạn thân thứ tư uốn lượn theo trục thẳng đứng, tàn thứ tư được uốn về phía bên trái. Đoạn thân thứ năm được uốn về chính tâm gốc (quy căn). Tàn ngọn được hình thành.

Cây tử có cấu trúc ba tàn: Tàn thứ nhất được uốn về phía bên trái tạo nét cân bằng với cây cha. Tàn thứ hai được uốn về phía bên phải theo lối chiết chi. Tàn thứ ba là ngọn chỉ cao bằng hoặc thấp hơn tàn thứ hai của cây cha.

Cành ở cây kiểng cổ được uốn sửa theo lối chiết chi nhị diện có âm, có dương, có văn có võ thật hài hòa. Cành được xếp đặt ở phần lồi của thân. Cành được uốn sửa theo kiểu vòi chạo cong lên, cong xuống thể hiện nguyên lý cực dương biến âm, cực âm biến dương.

Nếu đúng khoảng cách mà cành lại mọc ở vị trí ngược lại (cũng có thể do ý muốn chủ quan) hoặc mọc ở phần lõm của thân, cành sẽ được uốn vòng qua thân chính theo hướng ngược lại. Việc uốn cành như vậy được xem là một nét đẹp của cây và cành này được gọi là cành uốn chữ nữ. Theo quan điểm riêng, thì đây là kiểu uốn tàn văn chứ không phải tàn võ, vì nó biểu đạt tình mềm dẻo, tính nhu, âm, thể hiện nữ tính.

Tàn lá được cắt tỉa thành từng dĩa mỏng, hình tròn, hình trái tim hay được tạo thành khối hình bán nguyệt mỏng. Các nhánh sơ cấp, thứ cấp được cắt tỉa theo lối chiết chi để tạo ra một tàn cây đẹp.

Ngọn là phần cao nhất của cây, được tính là một tàn. Ngọn được cắt sửa thành khối hình bán nguyệt hay dĩa mỏng và nó được sửa theo các kiểu sau:

Kiểu tàn võ (dương): Tàn ngọn mọc thẳng, được cắt sửa thành dĩa hay khối không cho vươn cao lên nữa.

Kiểu tàn văn (âm): Tàn ngọn được uốn cong xuống hướng về phía gốc (ý hồi đầu) rất khiêm tốn nhã nhặn.

Kiểu tàn văn võ (âm - dương): Ngọn được chia ra hai bên tạo thành hai khối quân bằng thể hiện sự cân bằng âm dương, biểu đạt sự trung dung ở đời.

Cách uốn sửa tàn ngọn phụ thuộc vào dáng, thế, tính chất của cây cho phù hợp. Cây có gốc to, dáng thế mạnh mẽ biểu hị nam tính mạnh, được sửa ngọn theo kiểu tàn võ - cây có dáng mềm mại uyển chuyển ngọn được sửa theo lối văn rất hợp lý.

Về chiều cao cây kiểng cổ, thông thường là 1,6m. Vì nó là dạng kiểng dùng để trang trí trước sân nhà, cho nên tầm vóc được sửa cho cân đối hài hòa với nhà và cũng ngang tầm quan sát của người thưởng ngoạn. Tuy nhiên đây cũng là con số tham khảo, chứ không mang tính chuẩn mực như một số tài liệu đã đưa ra. Vì một cây kiểng cổ có giá trị, thể hiện ở tính chất mà nó mang, chứ không phải do khuôn khổ quy định về thước tấc. Chiều cao của cây phụ thuộc vào độ lớn của thân gốc một cách hài hòa và cũng một phần do ý muốn chủ quan của việc trang trí.

Về mặt nguyên tắc, cây kiểng cổ chiết chi nhị diện, bộ cành được uốn sửa theo lối âm - dương nghĩa là một tàn bên này, một tàn bên kia. Tuy nhiên, trong thực tế quan sát được ở một số cặp kiểng cổ ta thấy: hai tàn dưới thấp của cây chính lại được uốn về một bôn, tàn thứ ba mới được uốn về phía đối diện. Ở đây có lẽ nhằm mục đích tạo ra một bố cục cân bằng trong tác phẩm, tác phẩm sẽ không bị nặng về phía cây tử chăng? Và cũng có thể tàn thứ hai của cây chính sẽ không gần mà che khuất tàn ngọn của cây tử tạo nên nét thông thoáng cho tác phẩm.


Nhân việc bàn về cây kiểng cổ chúng tôi xin được nhắc lại câu thiệu: "Vô nữ bất thành mai, vô thập bất thành tùng". Câu này hàm ý chỉ tính chất của cây được uốn sửa một cách mềm mại, yểu điệu, thể hiện được nữ tính ở cây mai. Còn ở cây tùng được uốn sửa một cách dứt khoát, mạnh mẽ, cương trực cành nhánh không được uốn sửa yểu điệu, khí phách phải như người quân tử biểu hiện cho nam tính.

Như vậy cây mai đại diện cho phái nữ, nó được uốn sửa làm sao cho bộc lộ được nét mềm mại, nữ tính là thể hiện được tính chất của cây. Nếu có cành bắt tréo chữ nữ càng đẹp, nhưng trên cây chỉ nên có một cành bắt tréo chữ nữ để biểu diễn tính chất là đủ. Chứ không phải bắt nhiều cành tréo trên cây mai mới thể hiện được điều này, vì nếu cành bắt tréo nhiều trên cây sẽ có một ý nghĩa khác không tốt, không hay. Theo quan điểm riêng, ngay trên một cặp kiểng cổ cũng nên uốn chữ nữ ở một cây mà thôi. Nếu cả hai cây cùng có cành tréo nữ, thì ý nghĩa của nó cũng không tốt, có thể được hiểu theo hướng khác một cách lệch lạc.

Như vậy lối sửa chiết chi nhị diện ở cây kiểng cổ đặc trưng cho miền Nam, thể hiện rất rõ tâm ý của người tạo ra nó. Qua việc thưởng ngoạn cây người xem còn thấy rõ được triết lý sống, hiểu rõ cang thường đạo lý giữa con người và xã hội, để từ đó xác lập được giềng mối gia đình và xã hội tự tu tâm dưỡng tánh, giáo dưỡng tinh thần. Nó không những là một môn nghệ thuật mà còn là một triết lý đạo đức đưa con người đến chân thiện mỹ.

Tham khảo:tiengiangdost.gov.vn

Vài nét đặc trưng, hình thái và tập tính của hoa mẫu đơn


Hoa mẫu đơn tên khoa học: Paconie Suffruticosa, thuộc họ thược dược, biệt danh: Lộc phỉ, Thử cô, Bạch truật, Bạch lượng kim, Mộc thược dược, Lan Dương hoa, Phú quí hoa, quốc sắc thiên hương, vương hoa... Xuất xứ hoa từ cao nguyên Tây Bắc Trung Quốc, trong thung lũng Thiểm Cam Ninh, Sơn Cốc Ba quận thuộc dải Tần Linh, hiện nay trong vùng núi các tỉnh Thiểm Tây, Cam Túc, Tứ Xuyên, Hà Nam vẫn còn thấy có cây mọc hoang.

Đặc trung hình thái hoa mẫu đơn:

Hoa mẫu đơn là loại cây "lạc diệp quá mộc" (rụng lá mọc thành bụi) cao từ 1-2 mét, có khi đã cao đến 3 mét, phân cành nhánh nhiều, lá rộng bản, mọc đối thẳng đứng, hình trứng tròn, đầu lá có từ 3 đến 5 khía, cuống lá dài, co bộ toàn lục, bề mặt lá cung xanh lục, mặt trái màu tro lục, có phấn trắng, trơn nhẵn không lông hoặc có lông mịn nhỏ, hoa lưỡng tính mọc đơn trên đầu cành, đường kính từ 10 đến 30 cm, nhiều nhụy đực, toàn bộ bị hoa bàn bao vây, cánh nụ 5 màu lục, cánh hoa nguyên bản có từ 5 đến 6 cánh, trải qua thời gian di thực trồng một bộ phận nhụy đực biến thành cánh hoa, hoa trở thành cánh kép, có đến 3, 4 tầng. Số cánh hoa ít gọi là "đa diệp", hoa có các màu sắc từ trắng, vàng, đỏ, phấn, lục, tím, tím than, nhung... hoa kết thành trái chùm loại quả, có bẹ, chín nứt ra, gọi là loại quả "cốt đột" quả đầy lông mềm mịn, đến lúc chín quả nứt ra có chừng 5-15 hạt giống lớn hình móp méo không tròn, 1.000 hạt cân đuợc khoảng 250-300gr, nẩy mầm độ 60-90%, thời gian ra hoa thông thường tại Lạc Dương là tháng 4-5, tại Thuợng Hải là trung tuần tháng 4, tại Hà Trạch cũng trung tuần tháng 4, tại Bắc Kinh đến thượng tuần tháng 5 mới ra hoa...

Tập tính của hoa mẫu đơn:

Hoa mẫu đơn do trong thời gian sinh trưởng kéo dài từ mùa xuân khô ráo, hè thu ấm áp đến mùa đông lạnh lẽo, với điều kiện tự nhiên như vậy, kinh qua hệ thống phát dục trải dài năm tháng, nên dần dần hình thành tập tính: "Chịu lạnh sợ nóng, ưa ráo, ghét ẩm", nên từ hoang dại di thực vào Lạc Dương, Hà Trạch nuôi trồng, gặp đúng điều kiện khí tiết hai nơi này rất thích hợp, nên ngày càng phát triển mạnh. Vị trí Lạc Dương ở đúng ngay vĩ độ Bắc 34,4 độ hàng năm khí hậu ôn hoà, nhiệt độ bình quân 15,7 độ C, lượng mưa bình quân 610,2 mm, mùa đông không lạnh gắt, hè không nóng cháy, quanh năm mưa thuận gió hòa... Vị thế của Hà Trạch cũng ở vào Bắc vĩ độ 35,20 độ, khí hậu tương cận với Lạc Dương, không chênh lệch mấy. Điều kiện tự nhiên hai nơi này đặc biệt thích nghi cho sự sinh truởng của hoa mẫu đơn.

Đất thích hợp cho cây mẫu đơn phải ở nơi có tầng đất sâu, dày, tơi xốp, màu mỡ, loại đất mềm thoát nước hoặc đất cát tốt, tốt nhất tầng đất mềm dẻo bên trên, dày độ 1 mét, bên duới tầng đất pha cát. Loại cây này không thích hợp với đất mặn, muối hoặc đất nóng.

Hiện nay tại các miền Nam, Bắc Trung Quốc đều có nuôi trồng hoa mẫu đơn, có thể nói độ ẩm đối với điều kiện sinh tồn chủ yếu của loại hoa này không ảnh huởng mấy, mà độ nóng (bao gồm độ nóng của đất) đối với mẫu đơn phản ứng rất là mẫn cảm, hoa mẫu đơn thích hợp với địa thế cao ráo, tầng đất sâu dày, thoát nước tốt, rất sợ úng nước nhất là vào mùa hè, mưa to nuớc không thoát hết, làm nóng chết rễ, cho dù thời gian ngập úng ngắn, cũng đều có hại với hoa mẫu đơn

Chuyên đề: Cây Nho

I. Nguồn gốc và đặc tính

Cây nho (Vitis vinifera ) thuộc họ nho (Ampelidaeae) gốc ở các miền ôn đới khô Âu Á (Acmêni - Iran). Cũng có các giống nho khác gốc ở châu Mỹ nhưng chưa trồng với quy mô sản xuất ở Việt Nam. Theo B.Aubert nho là một trong những cây lâu năm có tính thích ứng cao nhất. Các chuyên gia Philippines năm 1975 đã viết "Nghề trồng nho không còn là một độc quyền của các nước ôn đới nữa".

Nho là loại quả mọc trên các cây dạng dây leo thân gỗ . Quả nho mọc thành chùm từ 6 đến 300 quả, chúng có màu đen, lam, vàng, lục, đỏ-tía hay trắng. Khi chín, quả nho có thể ăn tươi hoặc được sấy khô để làm nho khô, cũng như được dùng để sản xuất các loại rượu vang, thạch nho, nước quả, dầu hạt nho.

Cây nho ưa khí hậu khô và nhiều nắng, độ ẩm không khí thường xuyên thấp. Muốn trồng nho, trước hết phải tìm hiểu kỹ về điều kiện thời tiết khí hậu . Một đặc điểm rất đáng chú ý của nho là cần có một mùa khô đủ dài để tích lũy đường. Nên trồng nho ở những nơi hứng nắng, nhưng được che chắn kỹ, tránh những vùng có gió bão vì gió to có thể làm đổ giàn , dập lá, rụng quả.

II. Giá trị kinh tế

Theo tài liệu của FAO ,75.866 km² trên thế giới được dùng để trồng nho. Khoảng 71% sản lượng nho được dùng sản xuất rượu vang, 27% để ăn dưới dạng quả tươi và 2% làm nho khô.

Sản xuất nho trên thế giới ( năm 86-88) đạt 65 triệu tấn/năm , Trung Quốc 0,699 triệu, Ấn Độ 0,271 triệu. Thái Lan trồng nho trước ta và năm 1972 - 16.000 tấn; sản lượng của Việt Nam thì không đáng kể.

Trong sản lượng thế giới 65 triệu tấn 2/3 là nho để chế rượu vang; nho ăn tươi chỉ còn khoảng 20 triệu tấn, đủ để chiếm vị trí thứ ba sau cam và chuối. Nho nhiệt đới chỉ trồng để ăn tươi vì trồng để nấu rượu không có mùi thơm, rượu không ngon. Ngay ở một nước ôn đới như Pháp, nho trồng ở Địa Trung Hải coi như chất lượng kém hơn hẳn nho trồng ở các tỉnh phía Bắc như Champague và Bourgogue.

Giá trị thực phẩm trái nho : 100 g phần ăn được chứa 0,5 g protein - 9 mg canxi; 0,6 mg sắt; 50 đơn vị quốc tế vitamin A; 0,10 mg vitamin B1; 4 mg vitamin C; tức là trung bình về protein, tương đối khá về vitamin B1 còn kém về canxi - vitamin C. Nho được đánh giá là loại trái cây đắt giá và ưu điểm của trái nho là mã đẹp, có quả quanh năm và được thế giới phương Tây đánh giá cao. Quả nho chứa một hàm lượng lớn Polyphenol đây là chất làm hạn chế quá trình đông vón của tiểu cầu, giảm bệnh nhồi máu cơ tim, chống oxy hóa, tăng cường miễn dịch, chữa cao huyết áp,chống lão hóa…

III. Phân bố, phân loại

a. Phân loại

Hiện nay có nhiều giống nho được nhân giống thành công và cho năng xuất cao đẵ được trồng ở Việt Nam như giống nho ăn tươi NH01-93 , NH01-48 , NH01-96, giống Cardinal ( nho đỏ) và giống nho làm nguyên liệu cho chế biến rượu NH02-90.

1. Giống Cardinal (nho đỏ) là giống quan trọng của Việt Nam và các nước quanh vùng như Philippines, Thái Lan v.v... có nhiều ưu điểm : mã đẹp, dễ vận chuyển, sinh trưởng nhanh, chất lượng khá.

Giống nho đỏ Cardinal có một ưu điểm hơn các giống khác đã được nhập vào Việt Nam, từ cắt cành đến chín chỉ khoảng 90 ngày, với 1 tháng ngủ nghỉ trước khi lại cắt để cho ra trái vụ sau, tổng cộng 4 tháng cho 1 vụ, một năm có thể thu ba vụ, tiêu chuẩn kinh tế quan trọng của người trồng nho hiện nay.

2 . Giống nho ăn tươi NH01-93 có thời gian sinh trưởng từ 110 - 125 ngày kể từ khi cắt cành, dài hơn so với giống Cardinal cả về thời gian sinh trưởng và thời gian chín. Giống có khả năng sinh trưởng tương đương giống Cardinal, khả năng kháng một số đối tượng sâu bệnh hại chính tương đương hoặc cao hơn so với Cardinal và cao hơn so với NH01-48. Giống có khối lượng quả to hơn hẳn so với hai giống Cardinal và NH01-48, có độ Brix tương đương với Cardinal, có mùi hương đặc trưng, quả có màu tím đen, hình ô van rất phù hợp thị hiếu người tiêu dùng.

3. Giống nho ăn tươi NH01-96 có thời gian sinh trưởng của từ 115 - 120 ngày kể từ khi cắt cành, dài hơn so với giống đối chứng Cardinal. Giống có khả năng sinh trưởng tốt hơn so với giống Cardinal, khả năng kháng một số đối tượng sâu bệnh hại chính tương đương so với Cardinal. Khối lượng quả biến động từ 5,5 - 7,2 g cao hơn nhiều so với giống Cardinal và NH01-48, năng suất bình quân đạt 12 tấn/ha/vụ, vượt đối chứng từ 1-2 tấn, có độ Brix khá cao (16-17%), cao hơn so với Cardinal, có mùi hương đặc trưng, quả có màu xang vàng.

4. Giống nho làm nguyên liệu chế biến rượu NH02-90 có khả năng sinh trưởng mạnh, chống chịu tốt đối với sâu bệnh hại, năng suất thực thu đạt trên 10 tấn/ha/vụ. Độ Brix trên 17% và các chỉ tiêu chất lượng phù hợp cho sản xuất rượu vang theo tiêu chuẩn chất lượng của cơ sở sản xuất vang nho. Hiệu quả kinh tế thu được từ 15-35 triệu đồng/ha/vụ.

5. Giống nho NH01-48 là giống nho ăn tươi, khi chín quả có màu xanh, hạt ít (từ 1 đến 2 hạt/quả), độ đường cao (độ Brix 17-19%, giống Cardinal từ 13-14%), dễ cho bông, năng suất cao và ổn định. Chất lượng của giống này tương đương so với sản phẩm nhập khẩu cùng loại.

b. Phân bố

Ở nước ta cây nho được xác định là cây chủ lực nên tập trung phát triển ở những khu vực không bị ngập úng, có điều kiện khí hậu và thời tiết đất đai khá phù hợp cho cây nho phát triển như các xã Phước Hậu, Phước Sơn, Phước Nam, Phước Thuận và Phước Dân và một phần khu tưới Tân Giang, Bầu Zôn và Lanh Ra (huyện Ninh Phước), Thành Hải và Ðô Vinh (thị xã Phan Rang - Tháp Chàm).

Diện tích trồng nho được điều chỉnh từ 3.200 ha còn 2.500 ha - 3.000 ha (có ít nhất 1.500 Ha giống mới). Ðất trồng cây ăn quả khoảng 8.000 ha, trong đó diện tích trồng nho khoảng 2.500-3000 ha. Ðất vườn khoảng 5.000 ha trong đó có khoảng hơn 3.000 ha vườn đã cải tạo.

Ninh Thuận là quê hương của Nho, một đặc sản nổi tiếng trong nước. Diện tích trồng nho của tỉnh khoảng 2.500 Ha tập trung chủ yếu ở huyện Ninh Phước, Ninh Hải và thị xã Phan Rang – Tháp Chàm, với nhiều loại giống nho mới năng suất chất lượng cao, sản lượng hàng năm ổn định từ 60 - 65 ngàn tấn. Nho trồng nhiều ở vùng Phan Rang – Ninh Thuận vì ở đây có những điều kiện thuận tiện nhất. Phan Rang có lượng mưa thấp nhất nước 750 - 850 mm/năm và không khí tương đối khô. Đất phù sa ven sông Dinh (Phan Rang), sâu, giàu chất dinh dưỡng, luôn thoát nước, là đất nho rất tốt. Nho Ninh Thuận thường được dùng để ăn tươi, làm rượu nho và chế biến các sản phẩm khác. Vì vậy việc đầu tư chế biến các sản phẩm từ nho tại Ninh Thuận cũng là lĩnh vực tỉnh đang kêu gọi đầu tư.

Do những đặc tính ưu việt nên sau 2 năm đưa vào sản xuất, diện tích giống nho NH01-48 tại Ninh Thuận đã lên đến 371 ha, chiếm hơn 20% diện tích trồng nho Ninh Thuận, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống của người nông dân. Kết quả trong sản xuất cho thấy, tiềm năng năng suất và hiệu quả kinh tế của giống nho này khá cao, trong vụ thu hoạch đầu tiên, nông dân không những đủ chi phí vật tư, công lao động và khấu hao giàn trong vụ mà còn có lãi khá cao.

Theo giá thị trường hiện nay, giá bán 1 kg nho NH01-48 tại vườn nông dân từ 10.000-12.000 đồng/kg, trong khi đó giống nho đỏ giá cùng thời điểm chỉ từ 6.000 đến 8.000 đồng/kg. Trong điều kiện ở Ninh Thuận, giống nho NH01-48 có thể thu hoạch bình quân 2 vụ/năm. Do vậy, đối với giống này trong thời kỳ kinh doanh có thể đạt mức tổng thu từ 150 đến 200 triệu đồng/ha/năm, trong khi đó cây lúa (3 vụ/năm) chỉ thu được khoảng 17 đến 19 triệu đồng/ha/năm, cây nho Cardinal khoảng 90-120 triệu đồng/ha/năm.

Tuy nhiên, do chưa được quan tâm đầu tư KHKT nên cây nho ở đây chưa có điều kiện phát triển đúng với khả năng của nó. Những thiếu sót về chiến lược phát triển, cơ sở nghiên cứu, giống trồng và kỹ thuật canh tác.

Để cây nho Ninh Thuận có thể cạnh tranh được với các loại nho nhập khẩu cùng loại và hướng tới sản xuất nho an toàn để cung cấp cho nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu thì cần phải có những biện pháp quy hoạch vùng sản xuất nho chất lượng cao, tập trung, đầu tư để nâng cao trình độ cho cán bộ kỹ thuật và cho người sản xuất.

IV. Phương pháp nhân giống nho

Có 3 cách nhân giống nho như sau:

- Cắm cành: Chọn cành ở những gốc nho trẻ, khỏe, không hay ít bệnh. Lấy cành nho ở chân cành to bằng bút chì hoặc hơn. Cành cắt cành dài khoảng 20 cm, có 3, 4 mắt. Đánh dấu đầu dưới và đầu trên cành để cho khỏi lẫn, ví dụ bằng các vết cắt khác nhau. Buộc cành thành từng bó nhỏ, chiều dài gần bằng nhau, có chân cành phải cùng về một phía. Dùng giấy ni lông buộc mùn cưa ẩm cho bọc quanh chân cành rồi đặt vào một chỗ mát, có bóng râm nhẹ một hay hai tuần lễ khi mô sẹo sẽ hình thành, mắt bắt đầu nở thì đem cắm vào bịch. Đất bịch gồm 1 phần cát, một phần phân mùn và 1 phần đất mặt tưới giữ ẩm, phun thuốc trừ sâu bệnh nếu cần. Khoảng sau một tháng có thể trồng vào vị trí cố định.

- Chiết : Chọn cành to đường kính khoảng 12 mm, bóc đi một khoanh vỏ dài 2 - 3 cm, cạo cho hết tầng sinh gỗ rồi bó lại như thường lệ. Nho ra rễ nhanh, chỉ cần một tháng là có thể cắt, đem giâm vào bầu hoặc trồng thẳng.

- Ghép : Ghép mắt hoặc hình khiên hoặc hình cửa sổ đều dễ. Ghép cành trên gốc ghép đã chẻ đôi dọc theo tâm gốc cũng dễ sống. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam chưa có yêu cầu ghép, vả lại cũng chưa ai biết trong điều kiện nhiệt đới Việt Nam, giống nho nào dùng làm gốc ghép thì tốt.

V. TRỒNG VÀ CHĂM SÓC

- Trồng: Để cây nho phát triển tốt khi trồng nên chọn đất tốt, làm đất kỹ, cầy bừa tạo tầng đất mặt sâu, tạo điều kiện tưới tiêu thuận lợi. Mật độ ưa dùng nhất là 2,5 m x 2 m một cây (2000 cây/ha). Hố đào sâu, bỏ nhiều phân hữu cơ đã mục.

Đặc điểm của nghề trồng nho là phải cho cây leo giàn. Ở các nước nhiệt đới khác người ta dùng cọc hình chữ T bằng sắt hoặc bằng bê tông, tay dọc chữ T cắm sâu xuống đất, tay ngang buộc năm dây thép cách nhau đều. Tay ngang rộng từ 1,2 m đến 1,5 m. Chiều cao từ tay ngang tới mặt đất từ 1,2 m đến 2 m tùy vùng. Hai cột hai đầu phải đóng cọc gia cố.

Ở Ninh Thuận chỉ riêng ở Nha Hố có dùng cọc chữ T, nhưng nay cũng chuyển sang làm giàn, như ở trong dân. Giàn nho thông thường gồm hai hay nhiều hàng cọc. Trên đầu cọc, cao độ 1,8 m - 2,0 m, giăng một giàn dây thép ngang dọc cho nho leo. Giàn to thì phải gia cố những hàng cọc phía rìa bằng những thanh gỗ, thanh sắt, sào tre v.v... đủ vững để không sụp đổ, dưới sức nặng của cành lá và trái nho.

- Cho nho leo và cắt tỉa: Dùng một cái sào, hoặc cọc gỗ lớn bằng ngón tay cái, cắm gần gốc nho, cắm dựng đứng. Chọn trong các ngọn nho ngọn khỏe nhất buộc cho leo lên giàn. Bao nhiều ngọn phụ, hoặc cành sinh ra sau này cắt hết, sát đến tận nách lá để có một thân duy nhất to khỏe. Khi ngọn chính đã lên tới giàn, ngắt búp sinh trưởng để cho các cành cấp 1 phát triển. Một gốc nho chỉ để lại một số cành nhất định, phổ biến là 2, 3 cũng có khi là 1...4 tùy theo giống nho, trình độ thâm canh, mật độ trồng.

Ngọn của thân chính sau khi vươn tới giàn thì ngắt đi. Trong các cành mọc từ thân ra chọn lấy hai cành khỏe nhất, buộc vào dây thép cho phát triển theo hai hướng ngược nhau. Hai cành cấp 1 này sẽ trở thành 2 tay, buộc chặt vào dây thép bằng một loại dây có thể tự hủy được (đay, bẹ chuối, vỏ cây leo, dây ni lông v.v...). Không dùng dây thép vì sẽ thắt lấy tay, cản trở lưu thông của nhựa. Khi tay đã mọc dài 1 - 1,2 m lại bấm ngọn để lại trên mỗi tay một số cành cấp 2 gọi là cành quả. Cành quả cũng buộc vào dây thép, tránh gió lay, làm rách lá rụng mắt và không cho đè lên nhau.

Người ta thường trồng vào cuối mùa mưa tháng 12 - 1. Một năm sau tay và cành quả đã hóa gỗ, màu nâu, mắt đã nổi rõ, đại bộ phận lá đã chín thì người ta cắt để cho ra trái. Cắt hết cành lá đã có, chỉ để lại các bộ phận sau đây :

- Cành quả để hình thành trái và gỗ mới.

- Mầm dự trữ ở chân cành quả để thay thế các cành này vụ sau.

- Nếu gốc nho đã già, để lại một số cành gần thân để thay cho những tay đã quá già.

Bao nhiêu lá cắt đi hết. Cành nào quá yếu, mọc chồng cũng cắt. Những vụ sau, phương pháp cắt ra quả, cũng giống như vậy.

Từ khi cắt đến khi trái chín, giống sớm như Cardinal cần độ 90 ngày. Giống muộn như Ribier cần 120 ngày. Sau khi thu hoạch trái xong, phải để một thời gian 30 - 40 ngày cho cây nho nghỉ, xúc tích dự trữ. Hết thời kỳ ngủ nghỉ 30 - 40 ngày này ngọn và cành nách xanh lại, rễ cái ngả màu hồng, rễ con bắt đầu phát triển dài 1 - 2 cm, lúc này lại có thể cắt ra trái, hoàn thành chu kỳ 1 vụ nho. Như vậy một vụ nho tối thiểu phải 4 tháng, và một năm nhiều lắm cũng chỉ có thể thu hoạch 12 : 4 = 3 vụ, chỉ có giống Cardinal thỏa mãn được điều kiện này

Có 3 vụ cắt ra trái hiện nay là Đông xuân cắt tháng 12 - 1, Xuân hè cắt tháng 4 - 5 và Thu đông cắt tháng 9 - 10, vụ cuối cùng này cho năng suất thấp nhất vì tháng 9 - 10 - 11 - 12 là những tháng mưa nhiều nhất ở Ninh Thuận.

Xới xáo: Dưới tán giàn nho thường ít cỏ, mặt đất không phơi ra nắng, ít bị mất nước, đóng váng. Tuy nhiên điều tra ở Nha Hố cho thấy 70% các người trồng nho xới đất mỗi vụ một lần để phá bỏ một phần bộ rễ cũ, tái tạo bộ rễ mới kết hợp bón phân, trộn đều vào đất.

Tưới: Là một kỹ thuật quan trọng cùng với phân bón quyết định năng suất. Tưới chỉ cần thiết vào vụ nắng và về mùa mưa có khi cũng phải tưới. Đất thịt tưới nhiều nước hơn nhưng số lần tưới ít thường cách 10 - 15 ngày tưới một lần, nhưng thời kỳ ra hoa quả, sau 7 - 10 ngày đã lại cần tưới. Đất cát tưới một lượng nước ít hơn nhưng số lần tưới phải nhiều hơn, thường 5 - 7 ngày phải tưới một lần; khi lá nhiều, ra hoa quả - mỗi lần tưới chỉ cách nhau 3 đến 5 ngày.

Bón phân: Là một biện pháp kỹ thuật quan trọng bậc nhất, lại khó nắm vững vì phải dựa vào phân tích ở phòng thí nghiệm mới thật chính xác.

Nghiên cứu về bón phân cho nho từ trước đến nay chỉ làm sơ sài và những chỉ dẫn dưới đây dựa vào kết quả điều tra của Nha Hố ở trên 30 vườn nho chọn theo tính chất điển hình.

Lượng phân trên đây chỉ tính cho một vụ - năm làm 3 vụ vậy 1 ha một năm bón tới : 75,9 T phân chuồng; 8.085 kg đạm SA; 5.085 kg supe lân; 2.160 kg KCl

Một ha trung bình có 2.000 cây vậy mỗi cây 1 vụ bón 12,65 kg phân chuồng 1.350 gam đạm SA, 850 gam supe lân, 360 gam KCl, tính cả năm mỗi gốc nho bón tới 37,95 kg phân chuồng, 4.050 gam đạm SA, 2.550 gam supe lân và 1.080 gam KCl.

Về tỷ lệ các loại phân N:P:K, nếu tính trong 1 tấn phân chuồng hoai tốt có 5 kg N, 3 kg P2O5, 6 kg K2O thì tổng cộng, một vụ, một ha nho đã bón 666 kg N, 415 kg P2O5, 440 kg K2O, tỷ lệ N:P:K đã bón là 1,6 : 1 : 1,1.

Nếu đem tỷ lệ N:P:K so với ở các nước khác ví dụ Philippines theo kế hoạch bón phân ở Cebu City (1974) là 1,3 : 1 : 1,2 thì không có sự khác nhau lớn, N vẫn bón nhiều nhất rồi đến K rồi đến P.

Về thời gian bón ở Ninh Thuận, đạm bón 1/2 trước khi cắt 1/2 còn lại bón vào thời kỳ ra lá, nở hoa, trái lớn và chín là hợp lý; tuy nhiên, bón tới 20% vào thời kì trái lớn và chín có lẽ hơi muộn.

- Lân : bón 2/3 vào trước khi cắt cành là hợp lý, nhưng còn tới gần 25% bón vào kỳ trái lớn và chín có lẽ cũng hơi muộn.

- Kali bón 45% trước khi cắt, 44% khi trái lớn và chín cũng tương đối hợp lý nhưng vẫn bón hơi muộn.

Nói chung phương pháp bón của người trồng nho ở Ninh Thuận hiện nay tương đối hợp lý và cũng đã dựa vào kinh nghiệm vài chục năm chăm bón cho nho. Chưa có thí nghiệm tỷ mỷ, nên chưa thể có khuyến cáo chính xác nhưng có lẽ có thể cải tiến theo hai hướng chính : bón sớm hơn một chút đặc biệt với lân và kali và tăng tỷ lệ kali lên chút ít, không nên chỉ dựa vào đất đai màu mỡ ở ven sông Dinh.

Sâu bệnh

Sâu : có nhiều loại, nhưng nói chung không có loại nào thật sự nguy hiểm và nếu biết nhận dạng, dùng thuốc dễ dàng ngăn chặn được, miễn là đúng lúc, không trễ quá cũng không quá vội vã, khi chỉ có một vài con đã phun ngay thì có khi hại nhiều hơn lợi do chết thiên địch, mất cân bằng sinh thái.

Rầy, rệp sáp : hút nhựa, bám trên đọt non, lá, cành, chùm, cuống quả làm cho ngọn héo đi, lá quăn queo, chùm nhỏ, trái nhỏ không phát triển bị nứt ngay cả khi chưa chín. Trị bằng các loại thuốc sau đây : Bi 58 ND 1.5 - 2 l/ha nồng độ pha 1/500. Monitor 60 DD 1-1,5 l/ha, nồng độ pha 1/800 Methyl parathion 50 ND 1 - 1,5 l/ha - Nồng độ pha 1/800 - 1/1000.

Nhện đỏ : tám chân, chỉ nhỏ bằng đầu đanh ghim, bám ở mặt dưới lá gặm các tế bào biểu bì hút lấy nhựa. Thiệt hại lớn khi nhện phá hại sớm, lúc chồi vừa nẩy. Lá bị hại không quang hợp được và có thể bị rụng. Những thời kỳ ít mưa nắng nóng, đất không tưới kịp bị khô tác hại càng lớn. Trị bằng các thuốc sau đây : Bi 58 ND 1.5 - 2 l/ha. Nồng độ pha : 1/500. Phosalone 35 ND 2,5 - 3,5 l/ha pha 1/500 - 1/600.

Sâu ăn lá, sâu đục thân, đục quả

Trị bằng các thuốc sau đây :

Sherpa 25 ND 0.8 - 1 lít thuốc/ha pha 1/600 - 1/800. Decis 2,6 ND 500 - 700 gam/ha pha 10 - 15 cc trong bình xịt 8 lít nước.

Monitor 60 DD, 1 - 1,5 lít/ha nồng độ 1/800.

Bệnh

Có nhiều bệnh nho nhưng dưới đây chỉ nói tới một số bệnh gây hại nhiều và phổ biến.

- Bệnh mốc sương (downy mildew) do nấm Plasmopora viticola gây ra. Bệnh rất đáng sợ, gây hại nhiều nhất khi trời ẩm, lặng gió, mát. Bệnh đầu tiên xuất hiện trên lá, sau hại cả tay leo, đọt, hoa và chùm quả. Trên lá ở mặt trên trước tiên có những vết màu xanh - vàng, sau đó chuyển sang đỏ nâu. Cùng lúc ở mặt dưới lá, tơ nấm phát triển thành một màng mỏng, trắng trắng, những lông tơ (mốc sương). Ở Ninh Thuận bệnh nặng nhất vào mùa mưa tháng 10, 11, 12, 1.

Nông dân trị bệnh bằng sulfat đồng - vôi (thuốc Bordeaux) hoặc hỗn hợp lưu huỳnh vôi + Zineb phun kỹ và nhiều lần khi bệnh xuất hiện (đặc biệt vào mùa mưa tháng 10-11-12).

Mới đây, nhóm nghiên cứu nho ở Nha Hố, trong những thí nghiệm trừ bệnh mốc sương đã kết luận : AN-P 0.4% và Rozin 1.5 kg/ha (1.5%) trừ bệnh mốc sương tốt hơn đối chứng là sulfat đồng + vôi. Ngoài ra còn có các loại thuốc khác như Ridomil MZ 58WP 0.5%, Tilt 250 EC, Baycor 300 EC cũng có tác dụng trừ mốc sương tốt.

Bệnh phấn trắng

Do nấm Uncinula necator = Oidium tuckeri gây ra. Tất cả các đọt non mới sinh ra đều bị hại; bệnh phủ một lớp phấn trắng như bột lên lá non, cành thân non, trên cành lúc đầu bệnh cũng ở dạng phấn trắng nhưng sau đó chuyển nâu - gần như đen - Bệnh cũng chỉ nặng trong mùa mưa.

Người trồng nho thường trị bệnh này bằng lưu huỳnh, vôi cộng với Zineb mỗi ngày 1 lần. Thí nghiệm ở Nha Hố cho thấy Rozin 1,5% phun 5 ngày 1 lần, Rovral 1,5% phun 5 ngày 1 lần trừ bệnh lại còn tốt hơn, năng suất tăng 50% so với phun lưu huỳnh vôi + Zineb : Ridomil combi 50 WP 200 gam trong 1 lít nước 7 ngày phun 1 lần cũng có hiệu quả như Rozin và Rovral.

Bệnh rỉ sắt

Do nấm Pysopella vitis gây nên. Bệnh hại lá là chủ yếu, cũng chỉ xuất hiện mùa mưa, ở những lá hơi già dưới dạng những mụn rất nhỏ màu rỉ sắt. Hết mưa cũng hết bệnh. Không gây hại nặng nếu đã phun thuốc trừ bệnh phấn trắng và mốc sương.

VI.Thu hoạch – chế biến- tiêu thụ

Cây nho có đặc điểm là sau khi thu hoạch thi không chin thêm nữa phải đợi chín thì mới thu hoạch được. Đây là một nhược điểm vì nhiều trái cây khác như chuối, đu đủ, bơ, dứa v.v... có thể hái khi trái chưa chín, còn cứng, chịu được vận chuyển. Do đó phải chọn những giống thịt cứng, vỏ dày, dễ vận chuyển, nếu muốn bán các giống nho ăn tươi. Năng suất tùy giống, tùy vụ, tùy mức độ chăm sóc.

Nho ở Ninh Thuận và nho nhiệt đới nói chung chóng tàn, thời gian khai thác ngắn, chỉ khoảng 10 năm, đã phải phá đi trồng lại (ở ôn đới 40 - 50 chục năm). Đó là kết quả của việc “trồng cưỡng” cắt ba lần, thu hoạch 3 vụ 1 năm, vắt kiệt sức bụi nho.

Năng suất 41 tấn/ha có thể coi là cao nhưng ngay từ năm 1972, B. Aubert đã cho biết ở Ấn Độ những năng suất 40 - 50 tấn/ha là bình thường và năm 1969 một vườn nho được thưởng ở Decan đã đạt 80 tấn/ha.

Vụ Thu đông năng suất thấp nhất năm nào cũng thua vụ Đông xuân và Xuân hè tới 50% sản lượng, chi phí lại cao hơn vì lượng mưa ở Ninh Thuận dồn về mấy tháng 9, 10, 11, 12; bệnh nặng đến độ phải phun thuốc 1 hay 2 ngày một lần (30 - 50 lần phun một vụ). Phun thuốc nhiều thì tồn dư thuốc trên trái nho cao, ô nhiễm môi trường cao.