Quý I/2010: Giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 173,5 tỷ đồng
Kinh tế chung
Quý I/2010: Giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 173,5 tỷ đồng
12/4/2010
Thống kê trong quý I/2010 cho thấy tình hình sản xuất công nghiệp là rất khả quan. Ước tính giá trị sản xuất công nghiệp tháng 3/2010 đạt 59,7 nghìn tỷ đồng, tăng 17,8% so với tháng 2/2010 và tăng 14% so với tháng 3/2009. Tính chung 3 tháng đầu năm, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 173,5 nghìn tỷ đồng, tăng 13,6% so với cùng kỳ và cao hơn kế hoạch cả năm (mục tiêu đặt ra là 12%).
Tăng trưởng mạnh nhất là công nghiệp điện, gas, nước tăng tới 19,3% so với cùng kỳ năm 2009. Đặc biệt, công nghiệp chế biến - chiếm tỷ trọng khoảng 60% - đã tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước. Đây là động lực để duy trì tăng trưởng sản xuất công nghiệp ở mức cao hơn nhiều so với năm 2009. Điện sản xuất tăng 19,9%, khí đốt thiên nhiên tăng 24,3%, khí hoá lỏng tăng 66,7%, thép tròn các loại tăng 11,6%, phân hoá học tăng 9%, thủy hải sản chế biến tăng 4,1%, sữa bột tăng 11,6%, dệt may tăng 7,4%... Những kết quả này cho thấy về cơ bản, sản xuất phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng nội địa đang “tăng trưởng nhanh”. Kết quả sản xuất công nghiệp phản ánh rõ qua diễn biến xuất khẩu quý I/2010. Giá trị sản xuất ngành công nghiệp khai thác chỉ tăng khoảng 1% (trong đó dầu thô khai thác giảm 14,5%), kéo theo đó là xuất khẩu các mặt hàng năng lượng, khoáng sản đều ở mức thấp. Kim ngạch xuất khẩu dầu thô, than đá đều giảm so với cùng kỳ năm 2009, giảm lần lượt là 46,8% và 15,5%. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu quý I/2010 giảm 1,6% nhưng xuất khẩu các mặt hàng thuộc lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đều đã tăng mạnh. Cụ thể, dây và cáp điện tăng 119,5%, sắt thép tăng 72,2%, máy móc, thiết bị tăng 66,7%, máy tính - hàng điện tử tăng 40,9%, sản phẩm nhựa tăng 20,7%, dệt may tăng 12,3%, giày dép tăng 10,1%... Đáng lưu ý quý I/2010 là việc xuất khẩu mặt hàng vàng đạt kim ngạch rất thấp (tương đương 2% so với cùng kỳ năm ngoái), và kim ngạch xuất khẩu dầu thô giảm mạnh đã cho thấy kim ngạch xuất khẩu hàng hóa các loại vẫn cao hơn hẳn so với quý I/2009. Về kim ngạch nhập khẩu: Ước tính nhập siêu trong quý I/2010 lên tới 3,6 tỷ USD, cao hơn dự kiến 1 tỷ USD (tương đương 38,5%). Nhập siêu dù cao nhưng thực tế là các mặt hàng có mức tăng cao về kim ngạch đều là nguyên liệu phục vụ sản xuất. Như nhập khẩu bông tăng 162,9%, linh kiện phụ tùng ôtô tăng 119,8%, linh kiện xe máy tăng 82,7%, sản phẩm từ dầu mỏ tăng 65,7%, kim loại thường tăng 55,2%, máy tính - linh kiện điện tử tăng 53%, hóa chất tăng 36,5%, nguyên phụ liệu dệt may, da giầy tăng 21,7%, sắt thép tăng 16,2% (trong đó phôi thép tăng 21%), vải sợi tăng 13,3%... Việc đẩy mạnh nhập khẩu các mặt hàng nguyên liệu sản xuất chính là bằng chứng rõ nét cho thấy sự tăng trưởng của sản xuất trong nước. Mặc dù nhập siêu đã tăng cao ngay từ đầu năm nhưng không đáng lo ngại, bởi hướng đến mục tiêu là đẩy mạnh xuất khẩu. Trong quý II - III/2010, các biện pháp kiềm chế nhập siêu sẽ phát huy tác dụng do nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng sẽ giảm. Nhưng vẫn phải đảm bảo khả năng cung ứng đầu vào cho sản xuất. Dự báo tình trạng nhập siêu sẽ vẫn tiếp diễn trong quý II - III/2010, tuy nhiên sẽ không cao như quý I/2010 bởi nhập khẩu hàng tiêu dùng sẽ giảm đáng kể. Ngoài tác động của yếu tố cung cầu hàng hóa, nguyên liệu cho sản xuất - xuất khẩu, nhập siêu trong thời gian tới có thể chững lại bởi yếu tố tỷ giá. Nhiều doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa phân phối tại thị trường nội địa, do lo ngại về rủi ro tỷ giá, đã điều chỉnh lại tiến độ nhập khẩu, cắt giảm khối lượng nhập khẩu. Tỷ giá USD/VNĐ gần đây liên tục giảm và tỷ giá trên thị trường tự do đã không còn chênh lệch quá mức so với tỷ giá chính thức (nhờ nguồn cung ngoại tệ từ giải ngân vốn FDI, ODA, kiều hối… đã dồi dào hơn hẳn so với cách đây nửa năm). Thị trường ngoại tệ đang trong giai đoạn bình ổn và NHNN có thêm điều kiện để triển khai các chính sách dài hạn nhằm tăng cường tính ổn định cho thị trường ngoại hối và làm cơ sở để thúc đẩy xuất khẩu. dfass Một điểm đáng chú ý trên thị trường ngoại hối thời gian gần đây là ngay cả khi nguồn cung USD đã dồi dào hơn thì vẫn xuất hiện hiện tượng doanh nghiệp và dân cư tranh thủ mua tích trữ. Đây chính là hệ quả của tâm lý lo ngại rủi ro tỷ giá. Đồng thời, hiện tượng vay vốn bằng đồng USD cũng gia tăng dù tốc độ tăng chưa lớn. Hiện tượng này xuất hiện là vì các doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn VNĐ với chi phí thấp trong khi lãi vay bằng đồng USD và lãi vay bằng đồng VNĐ chênh lệch nhau gần 10%. Hiện nay, mặt bằng lãi suất VNĐ tương đối ổn định nhưng ở mức cao. Cụ thể, lãi suất cho vay ngắn hạn ở mức 12%/năm, lãi suất cho vay trung, dài hạn theo cơ chế thỏa thuận 14 - 15%/năm đối với nhóm NHTM Nhà nước, mức 15 - 17%/năm đối với nhóm NHTMCP, 18-20%/năm đối với nhóm NHTMCP nhỏ. Với các mức lãi suất cao như vậy, khả năng các doanh nghiệp được tiếp đủ vốn phục vụ sản xuất - kinh doanh gặp nhiều khó khăn. Việc NHNN quyết định giữ nguyên lãi suất cơ bản ở mức 8% sẽ giúp ổn định mặt bằng lãi suất, dù còn cao nhưng tránh được “cuộc đua” tăng lãi suất huy động của các NHTM sau khi có cơ chế lãi suất cho vay thỏa thuận. Mức lãi suất cơ bản 8% như hiện nay đã được duy trì trong gần 6 tháng. Hiện nay có hai khó khăn trái chiều nhau là đảm bảo cung ứng đủ vốn cho sản xuất và kiềm chế lạm phát. Sau khi triển khai các gói hỗ trợ lãi suất, đương nhiên phải tính đến phương án thắt chặt tiền tệ để hạn chế tác động lạm phát. Nhưng trong bối cảnh vừa vượt ra khỏi khủng hoảng, bài toán giảm chi phí đầu vào (vốn, nguyên vật liệu, nhân công…) để tăng sức cạnh tranh là đòi hỏi bức thiết của nền kinh tế. Với mức lãi suất như hiện nay và giá cả nguyên, nhiên vật liệu đều tăng, chính sách tiền tệ (lãi suất) thực sự đối mặt với nhiều thách thức. Thực tế, triển khai chính sách tiền tệ thắt chặt dẫn đến tình trạng khó khăn về vốn, đẩy chi phí đầu vào cho sản xuất cao hơn. Nếu kiểm soát thiếu quyết liệt, giá sản phẩm và dịch vụ sẽ đồng loạt tăng, CPI sẽ tăng và giảm chất lượng của tăng trưởng. Như vậy, để giải quyết được vấn đề về vốn cho doanh nghiệp, thả nổi lãi suất sẽ là một trong những hướng đi được xem xét, nhưng chắc chắn là sẽ không sớm, bởi nó phụ thuộc nhiều vào diễn biến CPI trong những tháng đầu năm. Trong tháng 3/2010, đúng như dự báo, CPI tiếp tục tăng với mức tăng 0,75%. So với mặt bằng giá khá cao trong dịp Tết Nguyên đán, giá hàng hóa tiếp tục tăng là dấu hiệu đáng lo ngại về triển vọng lạm phát năm 2010. Trong tháng này, chỉ số giá nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng tới 1,38% - chịu tác động gần như lập tức của việc tăng giá điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng. Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 1,5%, ăn uống ngoài gia đình tăng 1,75%, đưa chỉ số giá nhóm lương thực, thực phẩm tăng tương đối mạnh, 1,03%. Tính chung 3 tháng đầu năm, CPI tăng 4,12% so với tháng 12/2009 và khả năng sẽ tiếp tục tăng cao trong tháng 4/2010 bởi thời điểm đó sức tác động của các hiện tượng tăng giá thực sự “ngấm” sâu vào nền kinh tế. Như vậy, các chính sách điều tiết vĩ mô, đặc biệt là lãi suất, sẽ được đưa ra vào giữa quý II/2010, căn cứ vào những số liệu của nền kinh tế trong 4 tháng đầu năm.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét