Nhãn

Hiển thị các bài đăng có nhãn qua. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn qua. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 19 tháng 4, 2010

Chuyên đề: Cây Nho

I. Nguồn gốc và đặc tính

Cây nho (Vitis vinifera ) thuộc họ nho (Ampelidaeae) gốc ở các miền ôn đới khô Âu Á (Acmêni - Iran). Cũng có các giống nho khác gốc ở châu Mỹ nhưng chưa trồng với quy mô sản xuất ở Việt Nam. Theo B.Aubert nho là một trong những cây lâu năm có tính thích ứng cao nhất. Các chuyên gia Philippines năm 1975 đã viết "Nghề trồng nho không còn là một độc quyền của các nước ôn đới nữa".

Nho là loại quả mọc trên các cây dạng dây leo thân gỗ . Quả nho mọc thành chùm từ 6 đến 300 quả, chúng có màu đen, lam, vàng, lục, đỏ-tía hay trắng. Khi chín, quả nho có thể ăn tươi hoặc được sấy khô để làm nho khô, cũng như được dùng để sản xuất các loại rượu vang, thạch nho, nước quả, dầu hạt nho.

Cây nho ưa khí hậu khô và nhiều nắng, độ ẩm không khí thường xuyên thấp. Muốn trồng nho, trước hết phải tìm hiểu kỹ về điều kiện thời tiết khí hậu . Một đặc điểm rất đáng chú ý của nho là cần có một mùa khô đủ dài để tích lũy đường. Nên trồng nho ở những nơi hứng nắng, nhưng được che chắn kỹ, tránh những vùng có gió bão vì gió to có thể làm đổ giàn , dập lá, rụng quả.

II. Giá trị kinh tế

Theo tài liệu của FAO ,75.866 km² trên thế giới được dùng để trồng nho. Khoảng 71% sản lượng nho được dùng sản xuất rượu vang, 27% để ăn dưới dạng quả tươi và 2% làm nho khô.

Sản xuất nho trên thế giới ( năm 86-88) đạt 65 triệu tấn/năm , Trung Quốc 0,699 triệu, Ấn Độ 0,271 triệu. Thái Lan trồng nho trước ta và năm 1972 - 16.000 tấn; sản lượng của Việt Nam thì không đáng kể.

Trong sản lượng thế giới 65 triệu tấn 2/3 là nho để chế rượu vang; nho ăn tươi chỉ còn khoảng 20 triệu tấn, đủ để chiếm vị trí thứ ba sau cam và chuối. Nho nhiệt đới chỉ trồng để ăn tươi vì trồng để nấu rượu không có mùi thơm, rượu không ngon. Ngay ở một nước ôn đới như Pháp, nho trồng ở Địa Trung Hải coi như chất lượng kém hơn hẳn nho trồng ở các tỉnh phía Bắc như Champague và Bourgogue.

Giá trị thực phẩm trái nho : 100 g phần ăn được chứa 0,5 g protein - 9 mg canxi; 0,6 mg sắt; 50 đơn vị quốc tế vitamin A; 0,10 mg vitamin B1; 4 mg vitamin C; tức là trung bình về protein, tương đối khá về vitamin B1 còn kém về canxi - vitamin C. Nho được đánh giá là loại trái cây đắt giá và ưu điểm của trái nho là mã đẹp, có quả quanh năm và được thế giới phương Tây đánh giá cao. Quả nho chứa một hàm lượng lớn Polyphenol đây là chất làm hạn chế quá trình đông vón của tiểu cầu, giảm bệnh nhồi máu cơ tim, chống oxy hóa, tăng cường miễn dịch, chữa cao huyết áp,chống lão hóa…

III. Phân bố, phân loại

a. Phân loại

Hiện nay có nhiều giống nho được nhân giống thành công và cho năng xuất cao đẵ được trồng ở Việt Nam như giống nho ăn tươi NH01-93 , NH01-48 , NH01-96, giống Cardinal ( nho đỏ) và giống nho làm nguyên liệu cho chế biến rượu NH02-90.

1. Giống Cardinal (nho đỏ) là giống quan trọng của Việt Nam và các nước quanh vùng như Philippines, Thái Lan v.v... có nhiều ưu điểm : mã đẹp, dễ vận chuyển, sinh trưởng nhanh, chất lượng khá.

Giống nho đỏ Cardinal có một ưu điểm hơn các giống khác đã được nhập vào Việt Nam, từ cắt cành đến chín chỉ khoảng 90 ngày, với 1 tháng ngủ nghỉ trước khi lại cắt để cho ra trái vụ sau, tổng cộng 4 tháng cho 1 vụ, một năm có thể thu ba vụ, tiêu chuẩn kinh tế quan trọng của người trồng nho hiện nay.

2 . Giống nho ăn tươi NH01-93 có thời gian sinh trưởng từ 110 - 125 ngày kể từ khi cắt cành, dài hơn so với giống Cardinal cả về thời gian sinh trưởng và thời gian chín. Giống có khả năng sinh trưởng tương đương giống Cardinal, khả năng kháng một số đối tượng sâu bệnh hại chính tương đương hoặc cao hơn so với Cardinal và cao hơn so với NH01-48. Giống có khối lượng quả to hơn hẳn so với hai giống Cardinal và NH01-48, có độ Brix tương đương với Cardinal, có mùi hương đặc trưng, quả có màu tím đen, hình ô van rất phù hợp thị hiếu người tiêu dùng.

3. Giống nho ăn tươi NH01-96 có thời gian sinh trưởng của từ 115 - 120 ngày kể từ khi cắt cành, dài hơn so với giống đối chứng Cardinal. Giống có khả năng sinh trưởng tốt hơn so với giống Cardinal, khả năng kháng một số đối tượng sâu bệnh hại chính tương đương so với Cardinal. Khối lượng quả biến động từ 5,5 - 7,2 g cao hơn nhiều so với giống Cardinal và NH01-48, năng suất bình quân đạt 12 tấn/ha/vụ, vượt đối chứng từ 1-2 tấn, có độ Brix khá cao (16-17%), cao hơn so với Cardinal, có mùi hương đặc trưng, quả có màu xang vàng.

4. Giống nho làm nguyên liệu chế biến rượu NH02-90 có khả năng sinh trưởng mạnh, chống chịu tốt đối với sâu bệnh hại, năng suất thực thu đạt trên 10 tấn/ha/vụ. Độ Brix trên 17% và các chỉ tiêu chất lượng phù hợp cho sản xuất rượu vang theo tiêu chuẩn chất lượng của cơ sở sản xuất vang nho. Hiệu quả kinh tế thu được từ 15-35 triệu đồng/ha/vụ.

5. Giống nho NH01-48 là giống nho ăn tươi, khi chín quả có màu xanh, hạt ít (từ 1 đến 2 hạt/quả), độ đường cao (độ Brix 17-19%, giống Cardinal từ 13-14%), dễ cho bông, năng suất cao và ổn định. Chất lượng của giống này tương đương so với sản phẩm nhập khẩu cùng loại.

b. Phân bố

Ở nước ta cây nho được xác định là cây chủ lực nên tập trung phát triển ở những khu vực không bị ngập úng, có điều kiện khí hậu và thời tiết đất đai khá phù hợp cho cây nho phát triển như các xã Phước Hậu, Phước Sơn, Phước Nam, Phước Thuận và Phước Dân và một phần khu tưới Tân Giang, Bầu Zôn và Lanh Ra (huyện Ninh Phước), Thành Hải và Ðô Vinh (thị xã Phan Rang - Tháp Chàm).

Diện tích trồng nho được điều chỉnh từ 3.200 ha còn 2.500 ha - 3.000 ha (có ít nhất 1.500 Ha giống mới). Ðất trồng cây ăn quả khoảng 8.000 ha, trong đó diện tích trồng nho khoảng 2.500-3000 ha. Ðất vườn khoảng 5.000 ha trong đó có khoảng hơn 3.000 ha vườn đã cải tạo.

Ninh Thuận là quê hương của Nho, một đặc sản nổi tiếng trong nước. Diện tích trồng nho của tỉnh khoảng 2.500 Ha tập trung chủ yếu ở huyện Ninh Phước, Ninh Hải và thị xã Phan Rang – Tháp Chàm, với nhiều loại giống nho mới năng suất chất lượng cao, sản lượng hàng năm ổn định từ 60 - 65 ngàn tấn. Nho trồng nhiều ở vùng Phan Rang – Ninh Thuận vì ở đây có những điều kiện thuận tiện nhất. Phan Rang có lượng mưa thấp nhất nước 750 - 850 mm/năm và không khí tương đối khô. Đất phù sa ven sông Dinh (Phan Rang), sâu, giàu chất dinh dưỡng, luôn thoát nước, là đất nho rất tốt. Nho Ninh Thuận thường được dùng để ăn tươi, làm rượu nho và chế biến các sản phẩm khác. Vì vậy việc đầu tư chế biến các sản phẩm từ nho tại Ninh Thuận cũng là lĩnh vực tỉnh đang kêu gọi đầu tư.

Do những đặc tính ưu việt nên sau 2 năm đưa vào sản xuất, diện tích giống nho NH01-48 tại Ninh Thuận đã lên đến 371 ha, chiếm hơn 20% diện tích trồng nho Ninh Thuận, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống của người nông dân. Kết quả trong sản xuất cho thấy, tiềm năng năng suất và hiệu quả kinh tế của giống nho này khá cao, trong vụ thu hoạch đầu tiên, nông dân không những đủ chi phí vật tư, công lao động và khấu hao giàn trong vụ mà còn có lãi khá cao.

Theo giá thị trường hiện nay, giá bán 1 kg nho NH01-48 tại vườn nông dân từ 10.000-12.000 đồng/kg, trong khi đó giống nho đỏ giá cùng thời điểm chỉ từ 6.000 đến 8.000 đồng/kg. Trong điều kiện ở Ninh Thuận, giống nho NH01-48 có thể thu hoạch bình quân 2 vụ/năm. Do vậy, đối với giống này trong thời kỳ kinh doanh có thể đạt mức tổng thu từ 150 đến 200 triệu đồng/ha/năm, trong khi đó cây lúa (3 vụ/năm) chỉ thu được khoảng 17 đến 19 triệu đồng/ha/năm, cây nho Cardinal khoảng 90-120 triệu đồng/ha/năm.

Tuy nhiên, do chưa được quan tâm đầu tư KHKT nên cây nho ở đây chưa có điều kiện phát triển đúng với khả năng của nó. Những thiếu sót về chiến lược phát triển, cơ sở nghiên cứu, giống trồng và kỹ thuật canh tác.

Để cây nho Ninh Thuận có thể cạnh tranh được với các loại nho nhập khẩu cùng loại và hướng tới sản xuất nho an toàn để cung cấp cho nhu cầu trong nước cũng như xuất khẩu thì cần phải có những biện pháp quy hoạch vùng sản xuất nho chất lượng cao, tập trung, đầu tư để nâng cao trình độ cho cán bộ kỹ thuật và cho người sản xuất.

IV. Phương pháp nhân giống nho

Có 3 cách nhân giống nho như sau:

- Cắm cành: Chọn cành ở những gốc nho trẻ, khỏe, không hay ít bệnh. Lấy cành nho ở chân cành to bằng bút chì hoặc hơn. Cành cắt cành dài khoảng 20 cm, có 3, 4 mắt. Đánh dấu đầu dưới và đầu trên cành để cho khỏi lẫn, ví dụ bằng các vết cắt khác nhau. Buộc cành thành từng bó nhỏ, chiều dài gần bằng nhau, có chân cành phải cùng về một phía. Dùng giấy ni lông buộc mùn cưa ẩm cho bọc quanh chân cành rồi đặt vào một chỗ mát, có bóng râm nhẹ một hay hai tuần lễ khi mô sẹo sẽ hình thành, mắt bắt đầu nở thì đem cắm vào bịch. Đất bịch gồm 1 phần cát, một phần phân mùn và 1 phần đất mặt tưới giữ ẩm, phun thuốc trừ sâu bệnh nếu cần. Khoảng sau một tháng có thể trồng vào vị trí cố định.

- Chiết : Chọn cành to đường kính khoảng 12 mm, bóc đi một khoanh vỏ dài 2 - 3 cm, cạo cho hết tầng sinh gỗ rồi bó lại như thường lệ. Nho ra rễ nhanh, chỉ cần một tháng là có thể cắt, đem giâm vào bầu hoặc trồng thẳng.

- Ghép : Ghép mắt hoặc hình khiên hoặc hình cửa sổ đều dễ. Ghép cành trên gốc ghép đã chẻ đôi dọc theo tâm gốc cũng dễ sống. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam chưa có yêu cầu ghép, vả lại cũng chưa ai biết trong điều kiện nhiệt đới Việt Nam, giống nho nào dùng làm gốc ghép thì tốt.

V. TRỒNG VÀ CHĂM SÓC

- Trồng: Để cây nho phát triển tốt khi trồng nên chọn đất tốt, làm đất kỹ, cầy bừa tạo tầng đất mặt sâu, tạo điều kiện tưới tiêu thuận lợi. Mật độ ưa dùng nhất là 2,5 m x 2 m một cây (2000 cây/ha). Hố đào sâu, bỏ nhiều phân hữu cơ đã mục.

Đặc điểm của nghề trồng nho là phải cho cây leo giàn. Ở các nước nhiệt đới khác người ta dùng cọc hình chữ T bằng sắt hoặc bằng bê tông, tay dọc chữ T cắm sâu xuống đất, tay ngang buộc năm dây thép cách nhau đều. Tay ngang rộng từ 1,2 m đến 1,5 m. Chiều cao từ tay ngang tới mặt đất từ 1,2 m đến 2 m tùy vùng. Hai cột hai đầu phải đóng cọc gia cố.

Ở Ninh Thuận chỉ riêng ở Nha Hố có dùng cọc chữ T, nhưng nay cũng chuyển sang làm giàn, như ở trong dân. Giàn nho thông thường gồm hai hay nhiều hàng cọc. Trên đầu cọc, cao độ 1,8 m - 2,0 m, giăng một giàn dây thép ngang dọc cho nho leo. Giàn to thì phải gia cố những hàng cọc phía rìa bằng những thanh gỗ, thanh sắt, sào tre v.v... đủ vững để không sụp đổ, dưới sức nặng của cành lá và trái nho.

- Cho nho leo và cắt tỉa: Dùng một cái sào, hoặc cọc gỗ lớn bằng ngón tay cái, cắm gần gốc nho, cắm dựng đứng. Chọn trong các ngọn nho ngọn khỏe nhất buộc cho leo lên giàn. Bao nhiều ngọn phụ, hoặc cành sinh ra sau này cắt hết, sát đến tận nách lá để có một thân duy nhất to khỏe. Khi ngọn chính đã lên tới giàn, ngắt búp sinh trưởng để cho các cành cấp 1 phát triển. Một gốc nho chỉ để lại một số cành nhất định, phổ biến là 2, 3 cũng có khi là 1...4 tùy theo giống nho, trình độ thâm canh, mật độ trồng.

Ngọn của thân chính sau khi vươn tới giàn thì ngắt đi. Trong các cành mọc từ thân ra chọn lấy hai cành khỏe nhất, buộc vào dây thép cho phát triển theo hai hướng ngược nhau. Hai cành cấp 1 này sẽ trở thành 2 tay, buộc chặt vào dây thép bằng một loại dây có thể tự hủy được (đay, bẹ chuối, vỏ cây leo, dây ni lông v.v...). Không dùng dây thép vì sẽ thắt lấy tay, cản trở lưu thông của nhựa. Khi tay đã mọc dài 1 - 1,2 m lại bấm ngọn để lại trên mỗi tay một số cành cấp 2 gọi là cành quả. Cành quả cũng buộc vào dây thép, tránh gió lay, làm rách lá rụng mắt và không cho đè lên nhau.

Người ta thường trồng vào cuối mùa mưa tháng 12 - 1. Một năm sau tay và cành quả đã hóa gỗ, màu nâu, mắt đã nổi rõ, đại bộ phận lá đã chín thì người ta cắt để cho ra trái. Cắt hết cành lá đã có, chỉ để lại các bộ phận sau đây :

- Cành quả để hình thành trái và gỗ mới.

- Mầm dự trữ ở chân cành quả để thay thế các cành này vụ sau.

- Nếu gốc nho đã già, để lại một số cành gần thân để thay cho những tay đã quá già.

Bao nhiêu lá cắt đi hết. Cành nào quá yếu, mọc chồng cũng cắt. Những vụ sau, phương pháp cắt ra quả, cũng giống như vậy.

Từ khi cắt đến khi trái chín, giống sớm như Cardinal cần độ 90 ngày. Giống muộn như Ribier cần 120 ngày. Sau khi thu hoạch trái xong, phải để một thời gian 30 - 40 ngày cho cây nho nghỉ, xúc tích dự trữ. Hết thời kỳ ngủ nghỉ 30 - 40 ngày này ngọn và cành nách xanh lại, rễ cái ngả màu hồng, rễ con bắt đầu phát triển dài 1 - 2 cm, lúc này lại có thể cắt ra trái, hoàn thành chu kỳ 1 vụ nho. Như vậy một vụ nho tối thiểu phải 4 tháng, và một năm nhiều lắm cũng chỉ có thể thu hoạch 12 : 4 = 3 vụ, chỉ có giống Cardinal thỏa mãn được điều kiện này

Có 3 vụ cắt ra trái hiện nay là Đông xuân cắt tháng 12 - 1, Xuân hè cắt tháng 4 - 5 và Thu đông cắt tháng 9 - 10, vụ cuối cùng này cho năng suất thấp nhất vì tháng 9 - 10 - 11 - 12 là những tháng mưa nhiều nhất ở Ninh Thuận.

Xới xáo: Dưới tán giàn nho thường ít cỏ, mặt đất không phơi ra nắng, ít bị mất nước, đóng váng. Tuy nhiên điều tra ở Nha Hố cho thấy 70% các người trồng nho xới đất mỗi vụ một lần để phá bỏ một phần bộ rễ cũ, tái tạo bộ rễ mới kết hợp bón phân, trộn đều vào đất.

Tưới: Là một kỹ thuật quan trọng cùng với phân bón quyết định năng suất. Tưới chỉ cần thiết vào vụ nắng và về mùa mưa có khi cũng phải tưới. Đất thịt tưới nhiều nước hơn nhưng số lần tưới ít thường cách 10 - 15 ngày tưới một lần, nhưng thời kỳ ra hoa quả, sau 7 - 10 ngày đã lại cần tưới. Đất cát tưới một lượng nước ít hơn nhưng số lần tưới phải nhiều hơn, thường 5 - 7 ngày phải tưới một lần; khi lá nhiều, ra hoa quả - mỗi lần tưới chỉ cách nhau 3 đến 5 ngày.

Bón phân: Là một biện pháp kỹ thuật quan trọng bậc nhất, lại khó nắm vững vì phải dựa vào phân tích ở phòng thí nghiệm mới thật chính xác.

Nghiên cứu về bón phân cho nho từ trước đến nay chỉ làm sơ sài và những chỉ dẫn dưới đây dựa vào kết quả điều tra của Nha Hố ở trên 30 vườn nho chọn theo tính chất điển hình.

Lượng phân trên đây chỉ tính cho một vụ - năm làm 3 vụ vậy 1 ha một năm bón tới : 75,9 T phân chuồng; 8.085 kg đạm SA; 5.085 kg supe lân; 2.160 kg KCl

Một ha trung bình có 2.000 cây vậy mỗi cây 1 vụ bón 12,65 kg phân chuồng 1.350 gam đạm SA, 850 gam supe lân, 360 gam KCl, tính cả năm mỗi gốc nho bón tới 37,95 kg phân chuồng, 4.050 gam đạm SA, 2.550 gam supe lân và 1.080 gam KCl.

Về tỷ lệ các loại phân N:P:K, nếu tính trong 1 tấn phân chuồng hoai tốt có 5 kg N, 3 kg P2O5, 6 kg K2O thì tổng cộng, một vụ, một ha nho đã bón 666 kg N, 415 kg P2O5, 440 kg K2O, tỷ lệ N:P:K đã bón là 1,6 : 1 : 1,1.

Nếu đem tỷ lệ N:P:K so với ở các nước khác ví dụ Philippines theo kế hoạch bón phân ở Cebu City (1974) là 1,3 : 1 : 1,2 thì không có sự khác nhau lớn, N vẫn bón nhiều nhất rồi đến K rồi đến P.

Về thời gian bón ở Ninh Thuận, đạm bón 1/2 trước khi cắt 1/2 còn lại bón vào thời kỳ ra lá, nở hoa, trái lớn và chín là hợp lý; tuy nhiên, bón tới 20% vào thời kì trái lớn và chín có lẽ hơi muộn.

- Lân : bón 2/3 vào trước khi cắt cành là hợp lý, nhưng còn tới gần 25% bón vào kỳ trái lớn và chín có lẽ cũng hơi muộn.

- Kali bón 45% trước khi cắt, 44% khi trái lớn và chín cũng tương đối hợp lý nhưng vẫn bón hơi muộn.

Nói chung phương pháp bón của người trồng nho ở Ninh Thuận hiện nay tương đối hợp lý và cũng đã dựa vào kinh nghiệm vài chục năm chăm bón cho nho. Chưa có thí nghiệm tỷ mỷ, nên chưa thể có khuyến cáo chính xác nhưng có lẽ có thể cải tiến theo hai hướng chính : bón sớm hơn một chút đặc biệt với lân và kali và tăng tỷ lệ kali lên chút ít, không nên chỉ dựa vào đất đai màu mỡ ở ven sông Dinh.

Sâu bệnh

Sâu : có nhiều loại, nhưng nói chung không có loại nào thật sự nguy hiểm và nếu biết nhận dạng, dùng thuốc dễ dàng ngăn chặn được, miễn là đúng lúc, không trễ quá cũng không quá vội vã, khi chỉ có một vài con đã phun ngay thì có khi hại nhiều hơn lợi do chết thiên địch, mất cân bằng sinh thái.

Rầy, rệp sáp : hút nhựa, bám trên đọt non, lá, cành, chùm, cuống quả làm cho ngọn héo đi, lá quăn queo, chùm nhỏ, trái nhỏ không phát triển bị nứt ngay cả khi chưa chín. Trị bằng các loại thuốc sau đây : Bi 58 ND 1.5 - 2 l/ha nồng độ pha 1/500. Monitor 60 DD 1-1,5 l/ha, nồng độ pha 1/800 Methyl parathion 50 ND 1 - 1,5 l/ha - Nồng độ pha 1/800 - 1/1000.

Nhện đỏ : tám chân, chỉ nhỏ bằng đầu đanh ghim, bám ở mặt dưới lá gặm các tế bào biểu bì hút lấy nhựa. Thiệt hại lớn khi nhện phá hại sớm, lúc chồi vừa nẩy. Lá bị hại không quang hợp được và có thể bị rụng. Những thời kỳ ít mưa nắng nóng, đất không tưới kịp bị khô tác hại càng lớn. Trị bằng các thuốc sau đây : Bi 58 ND 1.5 - 2 l/ha. Nồng độ pha : 1/500. Phosalone 35 ND 2,5 - 3,5 l/ha pha 1/500 - 1/600.

Sâu ăn lá, sâu đục thân, đục quả

Trị bằng các thuốc sau đây :

Sherpa 25 ND 0.8 - 1 lít thuốc/ha pha 1/600 - 1/800. Decis 2,6 ND 500 - 700 gam/ha pha 10 - 15 cc trong bình xịt 8 lít nước.

Monitor 60 DD, 1 - 1,5 lít/ha nồng độ 1/800.

Bệnh

Có nhiều bệnh nho nhưng dưới đây chỉ nói tới một số bệnh gây hại nhiều và phổ biến.

- Bệnh mốc sương (downy mildew) do nấm Plasmopora viticola gây ra. Bệnh rất đáng sợ, gây hại nhiều nhất khi trời ẩm, lặng gió, mát. Bệnh đầu tiên xuất hiện trên lá, sau hại cả tay leo, đọt, hoa và chùm quả. Trên lá ở mặt trên trước tiên có những vết màu xanh - vàng, sau đó chuyển sang đỏ nâu. Cùng lúc ở mặt dưới lá, tơ nấm phát triển thành một màng mỏng, trắng trắng, những lông tơ (mốc sương). Ở Ninh Thuận bệnh nặng nhất vào mùa mưa tháng 10, 11, 12, 1.

Nông dân trị bệnh bằng sulfat đồng - vôi (thuốc Bordeaux) hoặc hỗn hợp lưu huỳnh vôi + Zineb phun kỹ và nhiều lần khi bệnh xuất hiện (đặc biệt vào mùa mưa tháng 10-11-12).

Mới đây, nhóm nghiên cứu nho ở Nha Hố, trong những thí nghiệm trừ bệnh mốc sương đã kết luận : AN-P 0.4% và Rozin 1.5 kg/ha (1.5%) trừ bệnh mốc sương tốt hơn đối chứng là sulfat đồng + vôi. Ngoài ra còn có các loại thuốc khác như Ridomil MZ 58WP 0.5%, Tilt 250 EC, Baycor 300 EC cũng có tác dụng trừ mốc sương tốt.

Bệnh phấn trắng

Do nấm Uncinula necator = Oidium tuckeri gây ra. Tất cả các đọt non mới sinh ra đều bị hại; bệnh phủ một lớp phấn trắng như bột lên lá non, cành thân non, trên cành lúc đầu bệnh cũng ở dạng phấn trắng nhưng sau đó chuyển nâu - gần như đen - Bệnh cũng chỉ nặng trong mùa mưa.

Người trồng nho thường trị bệnh này bằng lưu huỳnh, vôi cộng với Zineb mỗi ngày 1 lần. Thí nghiệm ở Nha Hố cho thấy Rozin 1,5% phun 5 ngày 1 lần, Rovral 1,5% phun 5 ngày 1 lần trừ bệnh lại còn tốt hơn, năng suất tăng 50% so với phun lưu huỳnh vôi + Zineb : Ridomil combi 50 WP 200 gam trong 1 lít nước 7 ngày phun 1 lần cũng có hiệu quả như Rozin và Rovral.

Bệnh rỉ sắt

Do nấm Pysopella vitis gây nên. Bệnh hại lá là chủ yếu, cũng chỉ xuất hiện mùa mưa, ở những lá hơi già dưới dạng những mụn rất nhỏ màu rỉ sắt. Hết mưa cũng hết bệnh. Không gây hại nặng nếu đã phun thuốc trừ bệnh phấn trắng và mốc sương.

VI.Thu hoạch – chế biến- tiêu thụ

Cây nho có đặc điểm là sau khi thu hoạch thi không chin thêm nữa phải đợi chín thì mới thu hoạch được. Đây là một nhược điểm vì nhiều trái cây khác như chuối, đu đủ, bơ, dứa v.v... có thể hái khi trái chưa chín, còn cứng, chịu được vận chuyển. Do đó phải chọn những giống thịt cứng, vỏ dày, dễ vận chuyển, nếu muốn bán các giống nho ăn tươi. Năng suất tùy giống, tùy vụ, tùy mức độ chăm sóc.

Nho ở Ninh Thuận và nho nhiệt đới nói chung chóng tàn, thời gian khai thác ngắn, chỉ khoảng 10 năm, đã phải phá đi trồng lại (ở ôn đới 40 - 50 chục năm). Đó là kết quả của việc “trồng cưỡng” cắt ba lần, thu hoạch 3 vụ 1 năm, vắt kiệt sức bụi nho.

Năng suất 41 tấn/ha có thể coi là cao nhưng ngay từ năm 1972, B. Aubert đã cho biết ở Ấn Độ những năng suất 40 - 50 tấn/ha là bình thường và năm 1969 một vườn nho được thưởng ở Decan đã đạt 80 tấn/ha.

Vụ Thu đông năng suất thấp nhất năm nào cũng thua vụ Đông xuân và Xuân hè tới 50% sản lượng, chi phí lại cao hơn vì lượng mưa ở Ninh Thuận dồn về mấy tháng 9, 10, 11, 12; bệnh nặng đến độ phải phun thuốc 1 hay 2 ngày một lần (30 - 50 lần phun một vụ). Phun thuốc nhiều thì tồn dư thuốc trên trái nho cao, ô nhiễm môi trường cao.

Các giống cây ăn quả đầu dòng

Chúng tôi xin giới thiệu với bà con nông dân một số giống cây ăn quả đầu dòng.


1. Bưởi lông cổ cò


Có nguồn gốc tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Hiện nay giống này được nhân rộng và trồng khá phổ biến tại các tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre...


- Cây có đặc tính sinh trưởng khá mạnh; phiến lá hình elíp, màu xanh đậm và trên bề mặt có lớp lông tơ mịn. Có khả năng chống chịu tốt đối với bệnh vàng lá thối rễ.


- Cây có khả năng cho trái sau 2,5-3,5 năm trồng (cây chiết và cây ghép). Thu hoạch tập trung từ tháng 8 đến tháng 12.


- Thời gian từ ra hoa đến thu hoạch khoảng 7-7,5 tháng. Năng suất khá cao (trên 100 trái/năm đối với cây 7 năm tuổi trở lên) và khá ổn định.


- Trái có trọng lượng trung bình 950-1050 g, dạng hình quả lê, vỏ màu xanh đến xanh vàng khi chín, trên bề mặt có lớp lông tơ mịn và dễ lột, tép màu vàng, bó chặt và dễ tách khỏi vách múi, nước quả vị ngọt chua nhẹ (độ brix 9,5-10,5 %), tỷ lệ thịt quả 45-50%, mùi thơm và có khá ít hạt (0-30 hạt/trái).


2. Vú sữa Lò Rèn

Vú sữa Lò Rèn là một trong những giống vú sữa nổi tiếng nhất ở các tỉnh ĐBSCL, được trồng đầu tiên tại xã Vĩnh Kim, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang. Trong những năm gần đây, giống vú sữa Lò Rèn là một trong những loại trái cây có tiềm năng xuất khẩu rất lớn của Tiền Giang.


- Cây có đặc tính sinh trưởng mạnh, tán cây dạng tròn. Lá dạng hình trứng, đuôi lá nhọn, mặt trên lá xanh đậm, bóng láng, mặt dưới màu nâu, nhám.


- Cây cho trái sau 3-4 năm trồng (cây chiết) nếu được chăm sóc tốt, thu hoạch tập trung trong tháng 2-3. Nếu áp dụng xử lý ra hoa sớm, thu hoạch từ tháng 12 đến tháng 1 năm sau.

- Thời gian từ khi ra hoa đến thu hoạch là 9 tháng. Cây cho năng suất cao (350- 450 kg/cây/năm, cây khoảng 20 năm tuổi) và khá ổn định.


- Trái khá to, trọng lượng trung bình 300-350g, dạng trái tròn. Trái khi chín màu xanh vàng (có ửng tím ở đáy trái), vỏ trái mỏng, bóng láng, lõi trái nhỏ (1,2-1,5cm). Chất lượng trái rất ngon, thịt dai, mềm, nhiều nước, độ brix 15-18 %, mùi vị thơm và tỉ lệ thịt ăn được cao (60-70%).


3. Xoài Khiêu sa vơi

Giống xoài Khiêu sa vơi có nguồn gốc từ Thái Lan, được du nhập và trồng ở nước ta từ năm 1996. Đây là giống xoài ăn xanh, có nhiều đặc tính tốt về khả năng sinh trưởng, khả năng cho năng suất và phẩm chất trái. Giống xoài Khiêu sa vơi hiện nay được trồng rải rác ở một số tỉnh của ĐBSCL, Trại Giống Đồng Tiến, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đây là giống nhập nội, chưa được nhà vườn biết đến nhiều nên diện tích còn hạn chế.


- Cây có đặc tính sinh trưởng mạnh, tán dạng hình tháp. Lá dạng hình lưỡi mác dài, đuôi lá nhọn.


- Cây cho trái 30 tháng sau khi trồng, nếu được chăm sóc tốt.


- Cây dễ ra hoa và đậu trái, cho thu hoạch tập trung vào tháng 3-4. Nếu áp dụng kỹ thuật xử lý ra hoa nghịch, cho thu hoạch vào tháng 1-2 dương lịch


- Thời gian từ khi ra hoa đến thu hoạch 105-110 ngày. Giống này cho năng suất cao (50 kg/cây/năm, cây 5 năm tuổi) và khá ổn định.


- Trái xoài không lớn, trọng lượng trung bình 250-300g, dạng trái thuôn dài, vỏ trái màu xanh đậm, trái khi già có lớp phấn phủ bên ngoài vỏ.


Chất lượng trái rất ngon, thịt màu vàng nhạt, mịn, ngọt, giòn, không xơ, hạt nhỏ dài và tỉ lệ thịt ăn được cao (78 - 80%).


4. Nhãn xuồng cơm vàng VT20NXCV


Cây đầu dòng VT20NXCV thuộc giống nhãn xuồng cơm vàng là một trong những giống có chất lượng ngon của nhóm nhãn giống, được phát hiện và chọn lọc trong điều kiện sản xuất của nông dân, có nguồn gốc tại Bà Rịa, Vũng Tàu, tuổi cây trên 40 năm.


- Cây có đặc tính sinh trưởng khá, lá dạng hình trứng, phiến lá hơi vặn.

- Thời gian cho thu hoạch tập trung từ tháng 6 đến tháng 8

- Thời gian từ khi cây ra hoa đến thu hoạch là 5,0-5,5 tháng.

- Trái nhãn khá to, trọng lượng trái trung bình 16-25g, dạng hình xuồng, vỏ trái dầy, màu vàng da bò. Chất lượng trái rất ngon, rất ngọt, ráo, dòn, độ brix 20 - 24%, tỉ lệ thịt đạt 60 - 70%, mùi vị khá thơm, màu hanh vàng.


5. Bưởi Năm Roi BNR 25


Cây đầu dòng BNR 25 thuộc giống bưởi Năm Roi, được trồng tại huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

- Thời gian từ ra hoa đến thu hoạch khoảng 7 - 7,5 tháng.

- Trái có trọng lượng trung bình: 1100 g/trái, dạng trái hình quả lê đẹp, vỏ trái màu xanh vàng đến vàng tươi khi chín và dễ lột, tép màu vàng nhạt, bó chặt, dễ tách khỏi vách múi và nhiều nước, vị ngọt chua (độ brix 9-11 %), tỷ lệ thịt quả trên 50 %, số lượng hạt ít đến không hạt.


6. Bưởi đường lá cam BC 12


Cá thể BC12 thuộc giống bưởi đường lá cam được trồng tại huyện Vĩnh Cửu, Đồng Nai và hiện nay giống này được nhân rộng và trồng khá phổ biến tại các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương...

- Cây có đặc tính sinh trưởng khá mạnh, dạng tán hình tròn.

- Mùa thu hoạch rải rác quanh năm, thường tập trung từ tháng 8 đến tháng 1 hàng năm.

- Thời gian từ ra hoa đến thu hoạch khoảng 7-7,5 tháng.

- Trái có trọng lượng trung bình: 1000g/trái, dạng hình quả lê thấp, vỏ màu xanh đến xanh vàng khi chín và dễ lột, con tép màu vàng, bó chặt và dễ tách khỏi vách múi, nước quả khá, vị ngọt không chua, tỷ lệ thịt quả 50-55 %, mùi thơm và nhiều hạt (60-90 hạt/trái).

Chuyên đề: Quả bơ

GIÁ TRỊ KINH TẾ, NGUỒN GỐC PHÂN BỐ

1. Giá trị kinh tế:

Trong các loại cây nhiệt đới và á nhiệt đới, bơ đứng vào bảng thứ 5 theo thống kê của FAO (1977). Tổng sản lượng thế giới là 1.221.000 tấn, tập trung ở các nước châu Mỹ về mặt tiêu thụ, các nước phát triển có nhu cầu ngày càng tăng đối với mặt hàng ngày càng quen thuộc này.

Thành phần dinh dưỡng của trái bơ cao hơn nhiều loại cây khác, nhất là về mặt calo, protein, các chất muối khoáng; bơ là thực phẩm lý tưởng cho người bị bệnh tiểu đường. Hàm lượng các chất dầu thực vật trong quả bơ rất cao (3-30%) và cơ thể con người có thể hấp thụ đến 92,8%.

So sánh một số trái cây về mặt chất lượng (trong 100g phần ăn được).

Loại trái +

Calo

Nước

(g)

Protein

(g)

Lipid

(g)

Đường

(g)

VitB1

(mg)

VitC

(mg)

Phosphor

(mg)

Calci

(mg)

102

79

1,1

6,1

13,2

0,05

8

38

12

Xoài

70

79,9

0,9

0,1

18,5

0,01

13

4

Đu đủ

45

87,1

0,5

0,1

11,8

0,03

73

24

Cam

40

88,6

0,8

0,2

9,9

0,07

43

23

21

Mặc dù thành phần dinh dưỡng của trái bơ rất cao so với nhiều loại trái cây khác, nhưng do mới phát triển trong thời gian gần đây, nên sản lượng bơ chưa cao, năng suất bình quân chỉ đạt 4-10 tấn, ngay cả những vườn cây thâm canh ở California.

2. Nguồn gốc phân bố, phân loại:

Đa số các giống bơ đều xuất xứ từ các vùng nhiệt đới Trung Mỹ như Mexico, Guatemala và quần đảo Antilles. Trong những xứ này, người ta thường phát hiện những cây bơ mọc hoang dại.

Bơ gồm rất nhiều giống thuộc họ Lauraceae. Phần lớn các giống có tính cách thương mại đều thuộc vào 3 chủng: chủng Mexico, chủng Guatemala và chủng Antilles hay West Indian.

Chủng Guatemala và West indian (Antilles) được xếp vào loài Persea americana Mill.

Chủng Mexico được xếp vào loài Persea drymyfolia.

Đặc tính của 3 chủng loại bơ quan trọng:

- Chủng Mexico: Có lá thay đổi nhiều về kích thước, lá có màu xanh lục, mặt dưới nhạt hơn mặt trên, đặc biệt khi vò lá ngửi có mùi hôi anique. Trái thường dài dạng quả lê, dạng đu đủ. Chất lượng rất tốt do hàm lượng chất béo rất cao: 15-30% (trên thị trường gọi là bơ sáp). vỏ trái mỏng, thường trơn tru, khi chín có màu xanh, vàng xanh, hay đỏ tím, đỏ sẫm tùy giống. hạt hơi lớn, vỏ hạt mỏng, mặt ngoài hạt trơn láng, khi chín hạt nằm lỏng trong lòng quả nhưng lắc không kêu. Thời gian từ khi ra hoa đến lúc trái chín thường từ 8-9 tháng. Đây là chủng bơ có chất lượng cao nhất và có đặc tính chịu rét tốt nhất.

- Chủng Guatemala: có lá màu xanh sẫm hơn chủng mexico và chủng Antilles, khi vò lá không có mùi hôi. Đọt non màu đỏ tối. Thời gian từ lúc trổ hoa đến lúc trái chín thường từ 9-12 tháng. Trái nhiều cuống trái dài, vỏ hơi dày và có sớ gỗ. Da thường sần sùi như da cá sấu. Hạt nhỏ và nằm sát trong lòng quả. Thịt quả dày cơm, có hàm lượng dầu béo 10-15%. Mặt ngoài hạt láng hoặc trơn láng. Chủng này có sức chống chịu rét khá tốt.

- Chủng Antilles hoặc West Indian: có lá to, lá thường có màu sắc gần như đồng đều ở hai mặt lá; khi vò nát lá, ngửi không thấy mùi vị gì cả. Thời gian từ lúc trổ hoa đến lúc trái chín thường từ 6-9 tháng. Trái thường to, có trái rất to. Cuống trái ngắn. Vỏ trái hơi ngắn và dai, dày trung bình 0,8-1,5 mm. Da trái có màu xanh và khi chín thì đổi sang màu xanh hơi vàng. Thịt quả có hàm lượng dầu 3-10%. Hạt khá lớn và nằm lỏng trong lòng quả, khi chín lắc qua nghe tiếng kêu. Mặt ngoài của hạt sần sùi, vỏ bao quanh hạt không dính liền với hạt. Chủng Antilles chịu rét yếu nhưng chịu nóng và chịu mặn (3% trong nước tưới).


ĐẶC ĐIỂM PHÂN BIỆT 3 LOẠI BƠ:

Chủng bơ

Màu lá

Cỡ trái

Vỏ trái

Dầu trong cơm

Hạt

Khoảng rỗng hạt

Chịu rét

Ưu điểm chung

Mexico

Hôi mùi anique

Nhỏ

Mỏng 0,8mm

Cao

To

Lỏng không sát thịt

Tốt

Chịu rét, chất lượng tốt

Guatemala

Không hôi

nhỏ, lớn đều có

dày 1,5-1,8mm

trung bình

nhỏ

dính chặt vào cơm

khá tốt

chịu rét khá tốt

Antilles

Không hôi

rất lớn và nhỏ

trung bình 0,8-1,5mm

thấp

to

lỏng, khi chín lắc kêu

yếu

Chịu nóng, chịu mặn

- Hiện nay trên thị trường đẵ xuất hiện1 giống bơ có tên Booth mới , nguồn gốc từ Mỹ được nghiện cứu và tiến hành khảo nghiệm từ Cty TNHH Tư vấn đầu tư phát triển nông lâm nghiệp EaKmát (Viện KHKTNLN Tây Nguyên)

Ưu điểm nổi trội của bơ Booth là hàm lượng chất béo cao, đạt 15% so với 5% ở giống bơ nước và dưới 10% ở giống bơ địa phương, có hương vị thơm ngon. Ngoài ra, trái bơ có vỏ dày, thời gian bảo quản có thể kéo dài trên 10 ngày, đáp ứng yêu cầu cho xuất khẩu. Đặc biệt thời vụ thu hoạch bơ Booth vào tháng 10 – tháng 11, muộn hơn so với các giống bơ địa phương trên 2 tháng.

Căn cứ vào các đặc điểm trên, có thể nghi nhận các vùng phân bố của các chủng bơ ở Việt Nam cụ thể Đà Lạt-Lâm Đồng như sau:


- Vùng Đà Lạt: hiện diện chủ yếu các giống thuộc chủng Mexico do đặc điểm chịu rét rất giỏi của nó, bên cạnh đó còn phát hiện các giống thuộc chủng Guatemala, nhưng chủng này chiếm tỷ lệ rất ít.

- Vùng Đức Trọng, Đơn Dương, Bảo Lộc: trong các huyện này, chủng Antilles chiếm tỷ lệ cao nhất so với các chủng khác.

- Vùng Di Linh: được xem là vùng phân bố chủng Guatemala.


- Vùng chuyên canh bơ Tây Nguyên: tại tỉnh ĐăkLăk có khoảng 80.000 người trồng bơ với diện tích đạt gần 2.700ha, sản lượng hàng năm bán ra thị trường hơn 40.000 tấn.


Bơ rất dễ trồng, gần như không cần phải bón phân và để công chăm sóc. Cây trồng khoang 3-4 năm đã cho quả bói. Vụ bơ chính bắt đầu từ tháng 5-9, bình quân mỗi cây có thể cho từ 100-150 kg quả, với giá khoảng 3000đ/kg thì mỗi ha bơ ( 150 cây) có thể cho thu nhập không dưới 45 triệu đồng. Thực tế ở Tây Nguyên bơ chỉ là một thứ cây trồng “tay trái”, nguyên nhân do đầu ra của sản phẩm hạn hẹp, không được quảng bá.


Song những năm gần đây, trái bơ Tây Nguyên đã có mặt tại các chợ , siêu thị trong cả nước, và còn xuất khấu sang Trung Quốc, khiến nông dân một số nơi đã nhìn nhận lại giá trị của loại trái cây này.


Viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên đã tạo được một tập đoàn 57 giống bơ mới tuyển chọn từ những cây đầu dòng trong nước và 12 giống nhập ngoại. Bà con nên mua những giống bơ mới này để trồng.


II. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT VÀ SINH LÝ

1. Đặc điểm thực vật:

Cây to được xếp vào loại cây xanh lá quanh năm, nhưng vài giống có tính rụng lá một phần hoặc rụng hết khi cây trổ hoa, những đặc tính này chỉ có tính cách tạm thời vì sau đó chồi non lại phát sinh ngay. Trên đa số giống lá già chỉ rụng dần trong một thời gian khá dài vào mùa xuân nên cây lúc nào cũng xanh lá.

Lá lúc còn non thường có lông mịn, màu hơi đỏ hoặc màu đồng nhưng đến khi trưởng thành, lá có màu xanh láng và dài. Chiều dài lá rất thay đổi từ hình thuẫn đến hình dao. Chóp lá thường bén nhọn nhưng có vài giống chóp lá hơi tròn. Mùi vị của lá thường chỉ đặc trưng cho loài Persea drymifolia Cham.et Schect. Khi vò ngửi có mùi hôi.

Hoa có màu xanh nhạt, hoặc xanh vàng, thường phát sinh thành chùm trên đoạn cuối cánh quả. Khi hoa nở, hoa có đường kính 12-14mm. Hoa có 12 nhị, nhưng chỉ có 9 nhị hoạt động, mỗi nhị mang 4 túi phấn. Hoa chỉ có một nhụy và một tâm bì chứa một tiểu noãn. Đa số các bộ phận của hoa có lông mịn.

Quả bơ có trọng lượng và hình dáng khác nhau tùy giống: tròn, trứng, quả lê, thuỗn... Trọng lượng thay đổi từ 60-150g, có giống quả rất to nặng đến 1,5 kg. Trên thương trường những giống quả bé hoặc quá lớn đều ít được ưa chuộng.

Quả có ba phần rõ rệt: vỏ thịt và hạt. Bề dày và cấu tạo của vỏ thay đổi tùy giống. Quả của những giống thuộc chủng Mexico thường có vỏ mỏng và láng, chủng Guatemala và Antilles thường có vỏ dày hơn. Có giống quả vỏ sần sùi, có giống vỏ láng và đôi khi có sớ gỗ. Màu sắc của vỏ quả biến động từ màu xanh sáng, màu xanh nhạt, xanh vàng, hoặc tím đến tím sẫm khi quả chín.

Thịt quả thường có màu vàng kem, vàng bơ, hoặc màu vàng sáng, có giống cho thịt quả có màu vàng xanh ở sát phần vỏ quả. Thịt quả có hàm lượng dầu béo rất cao so với các loại quả khác.

Hạt được 2 lớp vỏ lụa bao bọc, gồm có hai tử diệp hình bán cầu. Giữa hai tử diệp có phôi hạt nằm về phía cuống quả, và khi hạt nẩy mầm, cây mầm sẽ mọc thẳng từ dưới lên theo trục thẳng đứng của hạt. Mặt ngoài tử diệp (nội nhũ) trơn láng hoặc sần sùi tùy theo giống và hình dạng cũng biến động khá nhiều.

Tỷ lệ giữa vỏ, thịt và hạt của quả cũng tùy thuộc nhiều vào giống; chẳng hạn như ở giống Lula, hạt chiếm đến 25% trọng lượng quả.

2. Đặc điểm sinh lý của hoa bơ:

Mặc dù hoa mang tính chất lưỡng tính, nhưng đặc điểm thụ phấn tùy thuộc vào hoạt động sinh lý của nhị và nhụy. Qua nhiều nghiên cứu hiện tượng nở hoa và thụ phấn được J.A.Samson (1980) quan sát ghi nhận sự thụ phấn của hoa bơ mang tính tạp giao. Căn cứ vào thời gian hoạt động của nhị và nhụy, các tác giả đã chia bơ ra thành 2 nhóm:

- Nhóm A: hoa nở lần 1 vào buổi sáng; nhụy chín nhưng nhị chưa tung phấn; tiếp theo đó là thời kỳ hoa cụp lại; hoa nở lần 2 vào buổi trưa ngày hôm sau; nhị chín tung phấn nhưng nhụy không còn khả năng thụ phấn nữa.

Khoảng cách thời gian giữa 2 lần nở hoa của một hoa kéo dài trên 24 giờ.

- Nhóm B: có đặc điểm nở hoa ngược lại: hoa nở một lần vào buổi chiều; nhụy chín sẵn sàng đón phấn; tiếp theo đó là thời gian hoa cụp lại khoảng dưới 24 giờ; hoa nở lần 2 vào buổi sáng hôm sau; nhị chín và tung phấn.

Như thế hai nhóm A và B có đặc tính bổ sung sự thụ phấn cho nhau để cây đậu quả tốt. Nghiên cứu và ứng dụng tập tính nở hoa của các giống là yếu tố quyết định việc trồng bơ có hiệu quả kinh tế.

Hiện tại chưa có đủ tài liệu để phân loại giống, nhưng vài tác giả đã phân chia một số giống như sau:

- Nhóm A: gồm các giống: Mexicola, Puebla, Jalna, Gottfried, Taylor, Queen, Dickinson, Waldin, Simmonds, Collinson, Wagner, Taft, Lula, Dunedin....

- Nhóm B: gồm các giống: Wilslowson, Nabal, Pollock, Trap, Fuerte, Mc Donald, Schmidt, Tonnage, Linda, Hardy...

Trong đó một số giống có khả năng tự thụ phấn gồm: Hass, Trap, Lula, Waldin, Taylor, Fuerte, nhưng trồng riêng rẽ những giống này thường không thể cho năng suất cao được.

III. ĐẶC TÍNH SINH THÁI CỦA CÂY BƠ

Cây bơ có rất nhiều giống thuộc các chủng khác nhau nên không thể nêu nên đặc điểm sinh thái nói chung.

1. Về nhiệt độ: Như đã trình bày, cây bơ có nguồn gốc ở các xứ nhiệt đới Trung Mỹ, phân bố ở độ cao dưới 1.000 - 2.700 m. Ở đây các giống thuộc chủng Guatemala, Mexico có thể chịu được nhiệt độ từ -20o đến -60oC, các giống Antilles chỉ chịu được nhiệt độ khoảng 0oC.

Tại Đà Lạt, nhiệt độ tuyệt đối thấp rất hiếm khi đạt mức 0-10oC, nên các giống Antilles kém chịu rét nhất cũng chịu được, do đó vấn đề nhiệt độ thấp đối với cây bơ không quan trọng lắm. Vấn đề đặt ra là ảnh hưởng của nhiệt độ quá cao đối với sự chống chịu của giống và vấn đề phẩm chất biểu hiện ở hàm lượng dầu trong quả.

Như thế mỗi giống có yêu cầu về nhiệt độ khác nhau. Chẳng hạn như giống Booth 7 bắt đầu rụng trái khi nhiệt độ xuống đến 3oC. Tuy nhiên, người ta tạm chia các giống bơ ra thành 5 nhóm căn cứ vào sức kháng lạnh như sau:

- Nhóm chịu lạnh rất giỏi: có Lula, Taylor...

- Nhóm chịu lạnh giỏi: có Nabal, Hall, Tonnage...

- Nhóm chịu lạnh khá: Booth 8, Monroe, Wagner, Choquette...

- Nhóm chịu lạnh kém: Booth 7, Waldin, Hickson, Collinson, linda...

- Nhóm chịu lạnh rất kém: Pollock, Trap...

2. Ẩm độ: lượng mưa tối thích cho cả năm là 1.000 - 1.500mm. Khi bơ ra hoa, nếu gặp trời mưa dầm, ẩm độ không khí quá cao, hoa sẽ rụng nhiều. Do đó, bơ cần có một mùa khô mát để ra hoa đậu quả tốt. Mưa nhiều vào mùa quả chín cũng làm giảm chất lượng quả, hàm lượng dầu không cao.

3. Gió: Cây bơ có gỗ dòn, chống gió yếu nên vấn đề trồng cây che chắn gió có tác dụng hạn chế đổ gãy đồng thời giảm tốc độ bốc thoát hơi nước vào mùa ra quả (mùa khô) để cây không bị rụng trái. Gió còn làm trái cọ sát lẫn nhau, cọ sát với lá, cành gây ra bệnh sinh lý làm giảm giá trị trái bơ.

4. Đất đai: có thể trồng bơ trên nhiều loại đất khác nhau: đất sét pha cát, đất pha sét, đất thịt nặng. Nhưng vấn đề đặc biệt cần lưu ý là đất phải thông thoáng, dễ thoát nước, giầu chất hữu cơ. Lớp đất thông thoáng thoát thủy phải sâu ít nhất là 90 cm. Đất có mạch nước ngầm thấp sâu ít nhất là 2m, vì trong thời kỳ đầu sinh trưởng, rễ bơ ăn cạn, cây vẫn phát triển tốt nhưng càng về sau, bộ rễ ăn càng sâu, gặp đất úng thủy, rễ phát sinh nấm Phytophthora làm chết cây.

IV. Kỹ thuật trồng bơ


* Khoảng cách trồng: tuỳ theo chủng và giống đối với chủng Antilles và những giống lai, có thể trồng ở khoảng cách khá thưa: 8x8m hoặc 10x10m.


* Vấn đề xen canh: vào những năm bắt đầu trồng bơ, khi cây bơ toả tán chưa rộng, có thể trồng xen rau đậu nhưng không nên trồng cà chua, khoai tây vì nấm Verticilium có thể lan truyền cho cây bơ.


* Biện pháp giữ ẩm: giai đoạn còn nhỏ, bộ rễ bơ ăn cạn, cho nên vấn đề tưới giữ ẩm và phủ gốc là cần thiết để bơ không bị chết do nóng khô vào mùa nắng; nhất là đối với những vườn bơ trồng bằng cây ghép. Tốt nhất nên tưới phun và không nên tưới đẫm vào gốc.


* Bón phân: Tuỳ tuổi của cây giai đoạn cây còn nhỏ có thể bón theo công thức N - P2O5 - K2O với tỷ lệ 1-1-1. Ở cây lớn nên tăng tỷ lệ K2O và N lên theo tỷ lệ 2-1-2. Trước khi trồng và trong những năm đầu, nhất thiết phải bón phân chuồng hoai 10-20 tấn/ha.


* Vấn đề tạo tán: Tiến hành từ nhỏ đối với những giống cây cao để tạo dáng cây không cao quá 6m và cành toả đều về các phía. Việc cắt xén cành khô, cành vượt cũng phải thực hiện sau mùa thu hoạch để giúp cây sinh trưởng bình thường và ngăn ngừa không cho sâu bệnh lan tràn.


* Trồng cây chắn gió: thân cành bơ rất dòn, dễ gẫy, nên vấn đề trồng cây chắn gió rất quan trọng. Thường dùng cây dương liễu: (Casuarina equisetifolia) trồng dày cách hàng bơ bìa 6m để che gió và giúp cho đất thêm nhiều chất dinh dưỡng.

PHÒNG TRỪSÂU BỆNH

1. Sâu: Trên bơ có nhiều loài sâu hại:


- Sâu cuốn lá (Gracilaria percicae Busk): bướm thường đẻ trứng trên lá mới ra, trứng nở thành sâu và lớn dần lên theo lá, nhưng thông thường nhất là sâu nhả tơ cuốn lá lại để làm tổ. Sâu dài khoảng 10mm, xanh và có những lằn ngang không rõ rệt. Trưởng thành, sâu làm nhộng trong các tổ lá, nằm yên 5-7 ngày rồi vũ hóa.


Dùng các loại thuốc trừ sâu nội hấp để phun diệt trừ. Nếu có điều kiện, trước khi phun thuốc, nên gỡ bỏ các tổ lá do sâu cuốn lại để tăng thêm hiệu lực của thuốc.


- Sâu cắn lá: có rất nhiều loài, có hai loài đã được định danh là Seirarctia echo và Feltia subterrania F. Sâu ăn trụi lá làm chết cây con và làm giảm sức tăng trưởng cây lớn. Có thể tìm thấy sâu trên lá, trên cành hoặc vỏ thân cây. Ban ngày, sâu ẩn núp dưới gốc cây, đêm đến bò ra phá hại.


- Rầy bông (Pseudococcus citri Risse): rầy thường xuất hiện vào mùa mưa, chích hút nhựa lá và đọt non, quả non làm cây giảm sức tăng trưởng.


2. Bệnh: là đối tượng bảo vệ thực vật quan trọng trên cây bơ, gồm các bệnh hại sau:


- Bệnh thối rễ: do nấm Phytophthora cinnamoni gây ra, ở những chân đất có thuỷ cấp cao, nấm xâm nhập làm hư rễ chính (rễ cọc), sau đó nấm lan tràn phá huỷ cả bộ rễ làm cây chết rụi. Cây bị bệnh có tán lá xơ xác, lá đổi sang mầu xanh nhạt rồi rụng. Cành chết dần từ ngọn xuống thân chính.


Biện pháp phòng trừ:


- Chọn giống ghép và gốc ghép chống chịu bệnh. Không dùng hạt giống bị nhiễm bệnh và vườn ươm giống phải tuân thủ các biện pháp phòng chống bệnh phát sinh và lan tràn.


- Trồng bơ trên các loại đất có kết cấu tơi xốp, tầng đất canh tác đủ sâu, rút nước nhanh khi mưa.

- Tuyệt đối không dùng nước từ những vườn bơ bị bệnh để tưới.

- Phải tẩy uế nông cụ kỹ càng.

- Phát hiện kịp thời những vết thối trên thân, cạo sạch và quét sulfate đồng - vôi đặc. Khi cây chết vì bệnh, nên đào và huỷ bỏ để bệnh không lan tràn.


- Bệnh đốm lá (Cerocospora purpurea): bệnh hại lá và trái, nấm bệnh xuất hiện rải rác trên lá có hình dạng và kích thước gần giống nhau, hình có góc cạnh hoặc hơi tròn, mầu nâu. Những đốm này cũng có thể liên kết lại với nhau thành những mảng. Trên trái bệnh tạo nên những mụt lồi cỡ 5mm, có mầu nâu nhạt đến nâu đậm. Trái bị bệnh mất giá trị. Bệnh tồn tại trên lá già để phát tán khi có điều kiện thích hợp.


- Bệnh khô cành (Colletotrichum cloeosporiodes): nấm xâm nhập vào trên cành thường làm cành khô chết. Trên trái đã già, gần chín, nấm thường xâm nhập vào những chỗ do trái cọ sát hoặc bị thương tích hoặc do công trùng chích hút, ăn vỏ quả, làm cho trái bị nhũn (thường là ở phần cuối trái).


- Bệnh héo rũ: (Verticillium albo - atrum): cây bị nhiễm nấm thường đột nhiên bị héo lá trên một phần cây hoặc khắp cây. Lá bị chết rất nhanh, đổi thành vàng nhưng lá khó rụng. Nếu lột vỏ của cành hoặc rễ cây đã chết sẽ thấy những đường sọc mầu nâu ở phần tiếp giáp vỏ và gỗ. Sau thời gian vài tháng, mầm non phát sinh trở lại trên những nhánh chưa chết và trong vòng một hoặc hai năm, cây sẽ sống trở lại bình thường và không còn triệu chứng gì cả. Nấm tồn tại trong đất và gây bệnh cho nhiều loại thực vật ở bất cứ tuổi nào. Cây bệnh có thể chết luôn hoặc sống trở lại, đối với những cây bị bệnh một phần thì phần bệnh không thể cho trái trong vòng một hoặc hai năm. Thường áp dụng các biện pháp phòng trừ như sau:


- Dùng thuốc hóa học.

- Cắt xén kỹ khi cây vừa có triệu chứng bệnh, sau khi cây bị bệnh phục hồi, cắt bỏ những nhánh nhỏ, chết.

- Không dùng cành tháp của những cây đã bị bệnh, nên dùng gốc ghép là những giống thuộc chủng Mexico.


- Không nên xen canh hoặc luân canh bơ với các cây họ cà,...

- Không trồng cây trên đất kém thông thoáng, ẩm thấp và úng thuỷ.


V. Thu hoạch và chế biến


Cây ươm hạt bắt đầu có trái sau khi trồng được 5 hoặc 7 năm. Cây tháp bắt đầu cho trái bói sau khi trồng 1 đến 2 năm, nhưng không nên duy trì để thu hoạch quả những năm đầu (3 năm trở lại); đến năm thứ 4 chỉ để một số trái tương xứng với hình vóc của cây; và năm thứ 5 khi tiềm lực cây đủ cho năng suất thì không tỉa bỏ trái nữa mà chỉ áp dụng cho những giống có khuynh hướng ra trái quá sức như Booth 8 chẳng hạn.


Sau khi cây trổ hoa được từ 6 -12 tháng thì trái chín, thời gian này tuỳ theo giống. Năng suất cũng biến thiên rất nhiều theo giống, nhưng năng suất bình quân thường 8-20 tấn/ha. Việc tiến hành thu hoạch, thời điểm hái trái sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến phẩm chất cũng như điều kiện bảo quản, vận chuyển. Thông thường dựa vào màu sắc của da, nhưng ở Califorlia, người ta giám định hàm lượng dầu trong cơm.


Trái bơ có thể bảo quản lạnh hoặc ở nhiệt độ thường. Thông thường các giống bơ có thể bảo quản lạnh ở nhiệt độ 7 độ C, nhưng những giống thuộc chủng Antilles phải được bảo quản ở nhiệt độ cao hơn 12 độ C.


Trái bơ được sử dụng bằng nhiều cách, cách giản dị nhất là ăn với đường, sữa hoặc muối tiêu. Trái bơ còn được dùng như món rau salade hoặc trộn với rau diếp, đậu, cà chua, tương ớt... Trái bơ còn được cắt ra trộn vào canh để ăn khi còn nóng rất ngon. Trái bơ không thể để lâu hoặc đóng hộp được, tuy nhiên người ta còn dùng trái bơ để làm kem.

Trong kỹ nghệ, dầu trái bơ được dùng làm xà phòng hảo hạng và các loại mỹ phẩm cao cấp.

Chuyên đề: Hồng xiêm

Giá trị dinh dưỡng và ý nghĩa kinh tế.

Hồng xiêm (Sapôchê) là cây ăn quả nhiệt đới. Nguồn gốc ở vùng tây nam Mêhicô ,được nhập vào nước ta từ lâu và được trồng ở nhiều vùng. Tập chung nhất là ở đồng bằng sông cửu Long như Bến Tre,Tiền Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng, Đồng Tháp, Vĩnh Long. Ở miền bắc tập chung ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ như Hà Nội,Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Tây. Ngoài ra còn đựợc trồng nhiều ở Miền Trung- Thừa Thiên Huế, Quảng Bình, Hà Tĩnh và Nghệ An.

Hồng xiêm dễ trồng , không kén đất có thể trồng trên đất bị nhiễm chua hoặc mặn hoặc ở vùng gò đồi khô hạn thiếu nước. Cây có quả ổn định quanh năm ,thu hoạch được nhiều tháng quanh năm năng xuất khá cao, từ năm thứ 7(20-40 tân/1ha).

Trồng sớm cho quả : Cây chiết năm thứ 3 đã cho thu hoạch.Hồng xiêm mang lại hiệu quả kinh tế cho những vùng nhiễm mặn, khô hạn, điều kiện canh tác cây lương thực và cây ăn quả khác khó khăn có thể cho lợi tức gấp 5-10 lần lúa trong cùng điều kiện.

Quả hồng xiêm chín ăn ngọt, có mùi thơm nhẹ, mát và mềm, dễ tan, là thứ quả quý cho ngừời già, trẻ em, người có bệnh dạ dày và đường ruột..

Tài liệu phân tích 9 giống hồng xiêm ở miền nam Mêhicô cho thấy :

Nước: 69,0-75,7%; VitaminC 8,9-44,1mg/100g; Axit 0,09-0,15%; PH 5,0-5,3; Độ khô 17,4-23,7 độ Brix; Đường tổng số 11,14-20,43% ( trong đó: Glucose 5,84-9,23%; Fructose 4,47-7,13%; Saccharose 1,48-8,75%; Tinh bột 2,98-6,40 %; Hàm lượng Tananh ở vỏ 3,16- 6,45%)

Ngoài ra, ở quả hồng xiêm chưa chín còn có các hợp chất như garlic axit, caffoylquynic, catechins. Ở phôi nhủ của hạt có 1% saponins và 0,08% sapotinin, sử dụng nhiều hơn 6 hạt dễ bị ngộ độc. Quả hồng xiêm phơi khô , hạt , vỏ có thể dùng để làm thuốc.

Hồng xiêm là cây gỗ cao, có tán đẹp lá xanh quanh năm, vừa là cây bóng mát vừa là cây cảnh. Trồng hồng xiêm lấy quả, lây nhựa đồng thời là cây xanh có tác dụng cải tạo môi trường sống. Vì vậy ,hồng xiêm cũng là loại cây đáng chú ý trong phong trào phủ xanh đất trống đồi trọc hiện nay.

II.Nguồn gốc, phân bố, sản xuất trên thế giới và Việt Nam

Cây hồng xiêm có nguồn gốc ở Mêhicô và trung mỹ,hiện nay được trồng ở nhiều nước thuộc vùng nhiệt đới. Hồng xiêm được trồng nhiều nhất ở Tây Ấn vào năm 1513-1525. Diện tích trồng hồng xiêm ở Ấn Độ khoảng 5000ha và được xem là nước trồng nhiều hồng xiêm ở châu Á.

Ở châu Á ngoài hồng ngoài Ấn Độ ra còn có các nước khác trồng hồng xiêm như Malaixia,Inđônêxia,Thái Lan,Việt Nam,Philipin,Trung Quốc. Ở châu Mỹ có Mêhicô,Hoa kỳ(trồng ở bang Florida, và Hawai..)

Hồng xiêm không được xếp vào loại quả chủ yếu, tổ chức lương thực thế giới PAO không làm thống kê hàng năm với hồng xiêm, thời gian sau thu hoạch rất ngắn, quả lại chín không cùng một lúc,không dùng nhiệt độ thấp bảo quản nên tiềm năng buôn bán trên thị trường thế giới bị hạn chế.

Ở nước ta hồng xiêm được trồng từ bao giờ cho đến nay chưa ai nghiên cứu. Tuy không phải loại quả xuất khẩu chính nhưng nhờ có các ưu điểm như: dễ trồng ,không kén đất, cho quả ổn định, ít sâu bênh, quả ngọt, lại có thể trồng ở các vùng khí hậu khắc nghiệt làm cây bóng mát rất tốt lên được dân ta ưa chuộng

Ở Xuân Đỉnh ,Từ Liêm hầu như nhà nào cũng có hồng xiêm với tổng số hơn 13,768 cây ở các lứa tuổi, đây vốn là nơi có giống hồng xiêm ngon nổi tiếng phía Bắc.

Ở Hải Dương, xã Thanh Sơn,huyện Thanh Hà có 1.700 hộ gia đình, toàn xã có 18.700 cây là nơi có nhiều hồng xiêm nhất tỉnh Hải Dương và trồng giống hồng Thanh Hà.

Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long hồng xiêm là loại quả có tính hàng hóa và thị trường tiêu thụ mạnh, có những nơi trồng khá tập chung như ở cù lao Mỹ Phước, huyện Kế Sách tỉnh Sóc Trăng.

Theo tài liệu thống kê của Viện Nhiên cứu Cây ăn quả miền nam, năm 2000 ở Đồng bằng sông cửu Long có 5.134ha hồng xiêm , chiếm 2,15% tổng diện tích cây ăn quả toàn vùng. Trong đó nhiều nhất là tỉnh Tiền Giang 2.300ha rồi đến Sóc Trăng 1400ha, Trà Vinh 668ha, Cần Thơ 500ha.

III. Các giống hồng xiêm

1. Vùng đồng bằng sông Cửu Long

Thường trồng phổ biến 2 giống:

a, Sabôta

Cây cao khoảng 10m, mọc khỏe ít sâu bệnh, cho nhiều quả( trên 2000 quả/cây/năm) quả tròn nhỏ nặng 50-100g vị nhạt, thịt quả có cát. Do phẩm chất quả kém nên ít được ưa chuộng, diện tích ngày càng giảm dần.

b, Sabôxiêm ( Sabô lồng mứt, Sabô Cần Thơ)

Cây cao 7-10m, sau 10-30 trồng tán rộng 6-10m lá xanh rộng day hơn Sa bô ta. Cây cho quả 50- 100 kg/cây/năm tùy điều kiện chăm sóc. Quả to năng 150-300g, chiều dài quả 7-10 cm, đường kính 4,5-6,0 cm , thịt mịn, thơm ngọt rất hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Trồng với mật độ 150-200 cây /ha. Giống này tỉ lệ cho quả thấp vì vậy nên trồng xen thêm giống Sabô để tăng khả năng đậu quả. Giống Sabô xiêm có 2 dòng: ruột tím và ruột hồng đều được trồng ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Ngoài 2 giống trên còn có giống Sabô dây của vùng Sóc Trăng , quả to 200-300 g, thịt hơi nhão. Sabô dây Bến Tre quả to 400-600g, thịt mịn. Sabô vỏ xanh thịt mịn, ngọt.

2. Vùng đồng bằng sông Hồng và các tỉnh lân cận

Thường trồng phổ biến hai giống hồng xiêm Xuân ĐỈnh và hồng xiêm Thanh Hà

a, Hồng xiêm Xuân Đỉnh

Trồng nhìều ở Xuân Đỉnh- Từ Liêm- Hà Nội tán cây có hình chổi xể, cây thưa thoáng, lá màu xanh vàng, trong lượng quả trung bình 100g. Quả chín , thị thơm, ít xơ,là giống chín sớm nhất trong các giống hiện có , là giống chủ đạo rất được thị trường ưa chuộng và diện tích trồng đang được mở rộng.

b, Hồng xiêm Thanh Hà

Trồng nhiều ở huyện Thanh Hà- Hải Dương, tán có dạng hình cầu, cây rậm rạp, nhiều cành lá, mọc khỏe. Lá nhỏ và dài hơn hồng xiêm Xuân Đỉnh. Quả có dạng hơi tròn,quả bầu hơn hồng xiêm Xuân Đỉnh, quả nặng trung bình 80g, cây sai quả , năng suất quả trên cây cùng tuổi cao hơn hồng xiêm Xuân Đỉnh, khi chín ăn ngọt nhưng nhiều cát nên ít hấp dẫn. Quả chín muộn hơn hồng xiêm Xuân ĐỈnh.

Ngoài 2 giống kể trên còn có các giống:

+ Hồng xiêm quả trám:

Tán cây có dạng hình tháp, phân tầng,cành nhỏ, lá màu xanh,nho thuôn dài hai đầu. Quả nhọn có hình quả trám , trọng lượng trung bình 66g, rất sai quả, quả đậu thành chùm. Quả chín ăn rất ngọt, không có cát. Quả nhỏ hơn hồng xiêm Xuân ĐỈnh.

+ Hồng xiêm quả nhót:

Tán cây có dạng hình, lá nhỏ thon dài. Quả hình quả nhót, thường đậu thành chùm, quả nhỏ trung bình 56g. Quả chín ăn ngọt, ngon, không có cát.

+ Hồng xiêm quả dai:

Tán cây hình chổi xể, cành lá xòe rộng, lá to màu xanh nhạt, quả to hơn hồng xiêm quả nhót, quả dài có dạng hình ô van, quả ngon ngot, ăn không có cát.

+ Hồng xiêm Đỗ Trạch (hay hồng Đăm):

Tán cây có dạng hình tháp, lá to dài và rộng hơn hồng xiêm Thanh Hà và và Xuân ĐỈnh. Quả to trung bình nặng 120g hình trứng ngỗng. Quả chín muộn nhất sang tháng 4.

3. Các giống hồng xiêm ở Huế

Các vườn hồng xiêm ở Huế có nhiều giống khác nhau về độ lớn hình dạng và hình dáng quả. Dưới đây là các giống tiêu biểu:

+ Giống quả dài: ( nhìn giống quả xoài)

Quả to, trọng lượng 200-300g, ăn ngọt, nhiều nước.

+ Giống quả tròn:

Quả to có thể 400-500g , trung bình 300g ăn ngọt nhiều nước. Cả hai giống quả này thịt không mịn và chắc bằng hồng xiêm Xuân ĐỈnh.


4. Các giống hồng xiêm ở các nước trên thế giới

- Ở Ấn Độ trồng giống Kalipati quả nhỏ; giống Cricket Ball quả rất to, ngọt.

- Ở Inđônesia giống trồng tương đối phổ biến là Sawo Manila hình quả trứng va Sawo Kulan quả hình tròn.

- Ở Philippin có giống cho năng xuất cao Pineras quả to, ít hạt.

- Ở Thái Lan có giống quả nhỏ hình thuôn dài là Karasnai, quả to trung bình. Mùa thu hoạch chính ở Thái Lan từ tháng 9-tháng 12.

- Ở Mỹ bang Forida giống hồng xiêm có năng xuất cao và sớm có quả là Prolific, ngoài ra còn có Russel và Brown Sugar.

IV. Kỹ thuật trồng và chăm sóc

I. Cách trồng

Đào hố rộng 60cm, sâu 30-40cm, bón lót 30-40 kg phân chuồng hoai mục + 2 kg supe lân, trộn đều với đất bột, đặt cây vào giữa hố sao cho mặt bầu ngang mặt hố, lấp kín tưới ẩm và che nắng cho cây. Khoảng cách cây: 7x7m hoặc 8x8m.


II. Chăm sóc

Chăm sóc

Hồng xiêm ra quả quanh năm nên có nhu cầu phân bón cao. Khi cây còn nhỏ tưới nước phân chuồng hoặc phân ngâm ủ pha loãng theo tỷ lệ tăng dần 1/10 - 1/13. Khi cây lớn cho nhiều quả có thể bón 50-100 kg phân chuồng, 0,6-1,0 kg urê, 0,1-1,0 kg supe lân và 0,6-1,0 kg sulfat kali cho một cây. Đào rãnh theo hình chiếu của tán cây bón phân và lấp kín rãnh. Thời gian bón tháng 2-3 và tháng 6-7.

- Chống gió bão cho cây:

Rễ hồng xiêm ăn nông, nên hằng năm cần đắp thêm bùn ao vào gốc để tầng rễ phát triển dày và cây cứng cáp.

- Mùa mưa bão cần chằng các cành chính vào các cây lớn, phạt bớt cành dày và cành ngoài tán.

5. Một số sâu bệnh chính trên cây hồng xiêm:

Rệp hại: Rệp thường hại vào tháng năm trở đi. Khi có rệp thì kéo theo kiến và nấm phát triển. Phòng trừ dùng Wofatox 0,1-0,2%, Bi 58 0,1-0,2%, rải Basudin quanh gốc.

- Ruồi hại quả: Ruồi làm sinh sản giòi ăn phần thịt quả làm quả biến dạng, hoặc rụng non. Phòng trừ là thu hoạch trái trước khi chín, thu nhặt trái bị hại gom lại trộn với vôi đem chôn, sử dụng Wofatox 0,1-0,2% để phun trừ.

- Ngài hại lá, hại hoa: Ngài ăn lá, nụ hoa và quả non, chúng hoạt động mạnh vào lúc cây có cành non, chồi hoa. Phòng trừ dùng Supracide, Cidi, Filitox... để phun trừ.

- Bệnh đốm trên thân và cành lớn: Do nấm Cephaleurus canescens gây ra. Phòng trừ bằng thuốc gốc đông (hỗn hợp Bordeaux, oxy clorua đồng, Copper zinc... phun lên cây vào sáng sớm.

- Bệnh đốm lá: Do nấm Phaeophleospora indica gây ra. Phòng trừ bằng việc phun thuốc Copper zinc 0,3% hay Mancozeb 0,25%.

V. Nhân giống

Ở Việt Nam hiện nay chỉ phổ biến 1 phương pháp duy nhất là chiết cành, phương pháp gieo hạt, giâm cành, và ghép đều không hiệu quả.

Phương pháp chiết cành : Khi chiết nên chọn giống tốt, cành chiết không quá già đường kính 1,5-3,0cm. Thời vụ chiết tốt ở miền Bắc là trước khi cây ra lộc xuân, nhưng tốt nhất nên chọn vào mùa khô để kịp trồng trong mùa mưa. Sau khi chọn cành dùng dao sắc khoanh lớp vỏ thân một đoạn dài 3-5cm, cạo sạch lớp vỏ đến tận gỗ, để phơi 3-7 ngày sau đó bọc bầu chiết. Sau chiết cành 60-90 ngày có thể cắt cành chiết ra vườn ươm cây và ươm giống như các cây trồng khác. Chú ý sửa cành tạo tán cho cây con ở vườn ươm. Mỗi cây chỉ nên để 1 cành chính và 2-3 cành phụ ở cách bầu chiết 35-40cm hoặc 50cm sau này tiếp tục cắt tỉa cho cây con ngoài vườn ươm.

VI. Bảo quản thu hoạch và chế biến



- Ở miền Bắc hồng xiêm sau thụ phấn từ 8-10 tháng quả mới chín, ở miền Nam từ 4-6 tháng. Tiêu chuẩn xác định độ già thu hái là : cuống nhỏ lại, tai vểnh lên, lớp phấn nâu xám ngòai quả rạn nứt và bong ra vỏ quả chuyển màu xanh vàng và nhẵn, khi hái mủ ở cuống quả chảy ra ít hoặc không có .Nên hái quả từng đợt cách nhau 1-2 tuần/lần. Quả thu hoạch lên phân loại trước khi đem rấm.

- Hồng xiêm nên bảo quản ở nhiệt độ 30 0c trong vòng 5 ngày, ở 25 độ C thì 7 ngày.

Trồng hồng xiêm ngòai lấy quả còn có thể lấy nhựa. Trên 1 cây trong 1 năm có thể thu hoạch được 14-15kg nhựa. Nhựa hồng xiêm dùng làm kẹo cao su, nhưng ngày nay nhựa tổng hợp thay thế dân nhựa hồng xiêm nên thị trường mủ hồng xiêm giảm dần

Trồng nho an toàn: Hướng đi mới cho nông dân Bình Thuận

Mô hình trồng nho an toàn ít tốn kém hơn so với trồng nho truyền thống (chi phí bằng khoảng 3/4). Đây là mô hình không quá phức tạp, hiệu quả kinh tế cao (khoảng 300 triệu đồng/ha/năm), chỉ có thời điểm cắt cành kéo dài ngày hơn so với giống địa phương. Đặc biệt, việc sử dụng phân hữu cơ sinh học và các chế phẩm sinh học, chế phẩm vi sinh giúp cây nho khoẻ, tăng sức chống chịu và đề kháng đối với sâu bệnh, dịch hại, đã giúp giảm nhẹ chi phí sản xuất và sản phẩm nho đạt độ an toàn cao.

Mô hình này sử dụng chủ yếu là giống nho xanh RIBIER (Mỹ). Sở khoa học Công nghệ và Viện Công nghệ sau thu hoạch cũng đã cấp giấy chứng nhận cho mô hình nho an toàn của huyện Tuy Phong. Nhiều công ty, siêu thị ở thành phố Hồ Chí Minh đang quan tâm đến mô hình này, nên thị trường nho trong nước hiện nay rất lớn, sản phẩm nho an toàn đang được người tiêu dùng ưa chuộng và tin tưởng.

Nhiều hộ dân đã đến tìm hiểu mô hình này và đang chuyển đổi dần diện tích trồng nho thường sang trồng nho an toàn trên vùng đất cát ven biển. Từ 5 sào nho an toàn trồng đầu tiên năm 2006, đến nay diện tích nho an toàn của toàn huyện Tuy Phong đã có 15 ha nho an toàn/tổng số trên 100 ha nho toàn huyện. Theo ông Mưa, mô hình nho an toàn đạt hiệu quả, nhưng xu hướng nông dân vẫn còn mặn mà với giống nho địa phương do dễ tính hơn, ít chăm sóc hơn. Dân nghèo không vốn, sợ tốn kém, sợ rủi ro nên họ chấp nhận giống cũ. Do vậy, để phát triển mô hình này, rất cần có sự hỗ trợ về vốn và kỹ thuật của địa phương và các doanh nghiệp cho nông dâ

Tiền Giang: Nâng cao lợi thế cạnh tranh vú sữa lò rèn Vĩnh Kim

Tỉnh triển khai Dự án hỗ trợ toàn diện cây vú sữa lò rèn tại 13 xã phía nam quốc lộ 1 tiếp giáp với sông Tiền trên diện tích qui hoạch khoảng 3.000 ha, giúp Hợp tác xã sản xuất và tiêu thụ vú sữa lò rèn Vĩnh Kim (Châu Thành ) đầu tư gần nửa tỉ đồng xây dựng nhà xưởng đóng gói sản phẩm đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sang Châu Âu và Hoa Kỳ, đồng thời tiếp tục đầu tư thêm hàng trăm triệu đồng cho chương trình mở rộng diện tích vú sữa trồng theo tiêu chí Global GAP trong năm 2010. Kinh phí được tập trung chuyển giao kỹ thuật, hướng dẫn nhà vườn trồng theo tiêu chí, giúp cây con giống tốt và sạch bệnh...
Hợp tác xã vú sữa lò rèn Vĩnh Kim đã vinh dự nhận chứng chỉ Global GAP cho trái cây đặc sản này lần đầu tiên vào tháng 6/2008 với 19 hộ dân trên diện tích 7 ha và hiện đã mở rộng diện tích Global GAP lên 55 ha với sản lượng 500 tấn vú sữa hàng hóa. Hợp tác xã cũng đã xuất khẩu những lô chào hàng thử đầu tiên sang nhiều nước như: Nga, EU, Nhật Bản...Từ đầu năm 2010 đến nay, Hợp tác xã vú sữa lò rèn Vĩnh Kim cung ứng cho thị trường các tỉnh phía Bắc trên 100 tấn sản phẩm đồng thời thông qua Công ty Rồng Đỏ (Tp Hồ Chí Minh) xuất khẩu trên 4 tấn vú sữa lò rèn sang thị trường Hoa Kỳ, Canada và một số nước khác.
Để có được giấy chứng chỉ Global GAP, nhà vườn và hợp tác xã phải thực hiện 236 điểm qui định nghiêm ngặt nhằm đảm bảo an toàn cho người sản xuất, an toàn cho người tiêu dùng và môi trường an toàn bền vững. Một số yêu cầu gắt gao như: vườn cây được qui hoạch khoa học, cây có biển kiểm soát, nhà vườn phải có nhà kho chứa thuốc bảo vệ thực vật và sử dụng đúng cách, có nơi vệ sinh, phải bao trái để tránh sâu bệnh, áp dụng tốt các biện pháp thâm canh để cây đạt năng suất và sản lượng cao...Việc mở rộng diện tích trồng vú sữa theo tiêu chí Global GAP được coi là hướng đi đúng của tỉnh Tiền Giang nhằm tiến tới xây dựng vùng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, giúp nông gia có thu nhập cao, ổn định cuộc sống.

Khuyennongvn.gov.vn